Tại Hội thảo Thẩm mỹ an toàn: Từ pháp lý đến thực hành chuẩn y khoa do Báo Tiền Phong tổ chức tại TPHCM sáng 12/5, PGS.TS.BS Nguyễn Thanh Vân đã công bố hàng loạt số liệu và ca bệnh thực tế liên quan đến biến chứng sau phẫu thuật, tiêm filler, hút mỡ, nâng ngực, tạo hình thành bụng…
Theo bác sĩ Nguyễn Thanh Vân, phẫu thuật thẩm mỹ là lĩnh vực rất đặc biệt bởi đối tượng can thiệp là người khỏe mạnh, không có bệnh lý, với mục tiêu tối ưu ngoại hình và cải thiện chất lượng cuộc sống. Chính vì vậy, yêu cầu đặt ra là rủi ro phải ở mức thấp nhất.
“Biến chứng trong phẫu thuật thẩm mỹ có thể từ nhẹ tới nặng. Nhiều trường hợp trở thành vấn nạn của ngành thẩm mỹ tại Việt Nam. Nguyên nhân đến từ rất nhiều phía, từ hệ thống quản lý, cơ sở thực hiện, người làm chuyên môn cho đến yếu tố bệnh nhân”, bác sĩ Vân nói.
Theo thống kê từ Hiệp hội Phẫu thuật thẩm mỹ quốc tế (ISAPS), tỷ lệ biến chứng chung dao động từ 1,2% đến 5,7%. Tại Việt Nam, mỗi năm có khoảng 250.000 người thực hiện phẫu thuật thẩm mỹ, với khoảng 25.000-35.000 trường hợp biến chứng.
“Quy mô nhu cầu càng lớn thì biến chứng càng tăng. Đáng lo ngại là phần lớn biến chứng nặng lại xảy ra ở các cơ sở làm đẹp chui hoặc trong các thủ thuật xâm lấn”, ông Vân cho hay.
Tiêm filler tràn lan, nhiều biến chứng nguy hiểm đe dọa tính mạng
Theo thống kê, hơn 95% bệnh nhân gặp biến chứng là nữ, chủ yếu trong độ tuổi từ 30 - 35. Các biến chứng tập trung nhiều nhất ở vùng mũi (42,6%), tiếp theo là vùng mặt (20%) và ngực (18%).
Những tai biến thường gặp gồm nhiễm trùng, tụ máu, tụ dịch, sẹo xấu, biến dạng chức năng, hoại tử, tắc mạch do filler, mù mắt, thuyên tắc phổi, tổn thương tạng và tử vong.
PGS.TS.BS Nguyễn Thanh Vân cho rằng xu hướng thẩm mỹ tại Việt Nam hiện nay đang bị “phi y khoa hóa” nghiêm trọng. Nhiều spa, cơ sở chăm sóc da không phép ngang nhiên thực hiện các thủ thuật xâm lấn như tiêm filler, nâng mũi,…
“Filler hiện nay được tiêm tràn lan, không rõ nguồn gốc, người thực hiện không có kiến thức giải phẫu và cấp cứu. Đây là nguyên nhân dẫn tới hàng loạt ca tắc mạch, hoại tử, thậm chí mù mắt”, ông Vân nói.
Theo phân loại Clavien-Dindo, biến chứng thẩm mỹ được chia thành 5 mức độ. Độ 1 là các biến chứng nhẹ như bầm tím, tụ dịch ít; độ 2 cần điều trị bằng thuốc hoặc truyền máu, độ 3 cần can thiệp ngoại khoa, độ 4 đe dọa tính mạng như sốc phản vệ, suy đa tạng, thuyên tắc phổi, còn độ 5 là tử vong.
Ngoài ra, biến chứng còn được phân loại theo thời gian xuất hiện. Nhóm sớm xảy ra trong vòng 30 ngày sau phẫu thuật như tụ máu, nhiễm trùng, tắc mạch filler, nhóm muộn xuất hiện sau hơn một tháng như sẹo lồi, co thắt bao xơ hay di lệch mảnh ghép.
Một trong những biến chứng nguy hiểm nhất là huyết khối tĩnh mạch sâu - thuyên tắc phổi (DVT-PE) có nguy cơ tử vong từ 21-23,1%, đặc biệt cao ở các ca tạo hình thành bụng. Trong khi đó, hội chứng thuyên tắc mỡ thường gặp ở hút mỡ và cấy mỡ khối lượng lớn, với tỷ lệ tử vong 10 - 15%.
Ngoài ra, thủng tạng rỗng trong hút mỡ là tai biến đặc biệt nguy hiểm, có thể gây viêm phúc mạc, sốc nhiễm trùng với tỷ lệ tử vong khoảng 14,6%.
Lỗ hổng
Tại hội thảo, PGS.TS.BS Nguyễn Thanh Vân cũng công bố nhiều trường hợp biến chứng điển hình từng được điều trị tại Bệnh viện Quân y 175.
Một trường hợp điển hình là nữ bệnh nhân 36 tuổi bị viêm phúc mạc toàn thể sau hút mỡ kết hợp tạo hình thành bụng. Sau phẫu thuật, bệnh nhân đau bụng, sốt, khó thở, tràn dịch màng phổi rồi nhanh chóng rơi vào sốc nhiễm trùng. Khi chuyển tới Bệnh viện 175, bệnh nhân trong tình trạng lơ mơ, nhiễm trùng nặng, chụp CT phát hiện khí tự do trong ổ bụng do thủng tạng rỗng.
Bệnh nhân sau đó tiếp tục bị viêm phổi đa kháng, hoại tử thành bụng, phải nhiều lần cắt lọc hoại tử và ghép da tự thân. Sau hơn 100 ngày điều trị, bệnh nhân giữ được tính mạng nhưng sụt 18 kg và để lại di chứng nặng nề.
Một trường hợp khác là bệnh nhân nữ 64 tuổi thực hiện cùng lúc nhiều phẫu thuật gồm cắt mí, đặt túi ngực, hút mỡ đùi và tạo hình thành bụng. Sau mổ, bệnh nhân ban đầu ổn định nhưng đến ngày thứ hai đột ngột khó thở, tụt huyết áp, rơi vào sốc nặng.
Khi chuyển đến bệnh viện, bệnh nhân đã hôn mê, suy đa cơ quan. Siêu âm tim ghi nhận giãn thất phải nghi do thuyên tắc phổi cấp. Dù được hồi sức tích cực nhưng bệnh nhân tử vong sau ba ngày điều trị.
Ngoài ra còn nhiều ca biến chứng nghiêm trọng khác như thiếu nữ 17 tuổi bị mù mắt sau tiêm filler tại spa, bệnh nhân lật mi, mắt trợn do cắt quá nhiều da, sụp mí vì tổn thương cơ nâng mi; lộ sụn silicon sau nâng mũi, hoại tử thành bụng sau hút mỡ tại cơ sở không phép.
Đặc biệt, một số trường hợp nâng ngực bằng filler phải phẫu thuật tháo bỏ toàn bộ mô hoại tử do chất làm đầy gây viêm và nhiễm trùng nặng.
Theo bác sĩ Vân, nguyên nhân dẫn đến các tai biến nghiêm trọng xuất phát từ nhiều lỗ hổng của hệ thống: cơ sở không phép, người thực hiện không phải bác sĩ chuyên khoa, bác sĩ làm vượt phạm vi chuyên môn, vật tư y tế không đảm bảo và thiếu năng lực hồi sức cấp cứu.
Bên cạnh đó là việc lạm dụng quá nhiều kỹ thuật trong một lần mổ kéo dài, trong khi bệnh nhân có bệnh nền chưa được kiểm soát, béo phì hoặc hút thuốc lá.
“Biến chứng thẩm mỹ tại Việt Nam không chỉ là vấn đề kỹ thuật cá nhân mà đã trở thành vấn đề y tế công cộng”, PGS.TS.BS Nguyễn Thanh Vân nhấn mạnh.
Chuyên gia này cho rằng để giảm biến chứng cần siết quản lý các cơ sở thẩm mỹ, chuẩn hóa chuyên môn người hành nghề, sàng lọc bệnh nhân kỹ lưỡng và quản trị tốt kỳ vọng trước phẫu thuật.
“Quan trọng nhất là không bỏ rơi bệnh nhân khi xảy ra biến chứng. Phải báo ngay cho bệnh nhân khi có bất thường, đồng hành chuyên môn, xử trí theo phác đồ rõ ràng và tuyệt đối không đổ lỗi cho người bệnh”, ông Vân nói.