Áp lực lãi suất từ nhu cầu vốn và lạm phát
Trao đổi với PV Tiền Phong, TS. Châu Đình Linh - chuyên gia tài chính - ngân hàng, Đại học Ngân hàng TPHCM - nhận định tăng trưởng GDP 9 tháng đầu năm đạt 9,01%, trong khi tăng trưởng quý III tiệm cận 10% là kết quả ấn tượng. Tuy nhiên, đằng sau tốc độ tăng trưởng cao, nền kinh tế vẫn phải đối mặt với áp lực lạm phát, trong khi nhu cầu tín dụng và vốn đầu tư của doanh nghiệp ngày càng lớn.
Theo ông Linh, vấn đề không chỉ là đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh mà còn nằm ở khả năng huy động vốn của hệ thống ngân hàng có theo kịp tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế hay không.
Theo chuyên gia, có ba yếu tố chính tạo sức ép lên mặt bằng lãi suất: Thứ nhất, khi lạm phát còn cao, người gửi tiền có xu hướng đòi hỏi mức lãi suất danh nghĩa cao hơn để bảo đảm lợi ích thực tế và bù đắp rủi ro. Để duy trì nguồn vốn huy động ổn định, các ngân hàng phải điều chỉnh lãi suất đầu vào phù hợp, từ đó tạo áp lực lên lãi suất cho vay.
Thứ hai, lãi suất cho vay không chỉ phụ thuộc vào chi phí huy động vốn mà còn bao gồm chi phí vận hành, phần bù rủi ro đối với từng nhóm khách hàng và biên lợi nhuận của ngân hàng. Khi các cấu phần này chưa giảm đáng kể, khả năng hạ lãi suất cho vay sẽ bị hạn chế.
Thứ ba, các yếu tố bên ngoài như chính sách lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), giá năng lượng và nguyên vật liệu nhập khẩu tiếp tục tác động đến thị trường tài chính trong nước. Trong khi đó, cơ quan điều hành phải đồng thời giải quyết bài toán ổn định lãi suất, cân đối tỷ giá và hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng cao.
Từ những yếu tố trên, ông Linh cho rằng mặt bằng lãi suất có thể tiếp tục duy trì ở mức cao hoặc xuất hiện những đợt tăng cục bộ, thay vì giảm đồng loạt trong thời gian ngắn. Lãi suất cũng có thể phân hóa theo từng nhóm khách hàng, khoản vay và mức độ rủi ro của doanh nghiệp. Điều này đồng nghĩa doanh nghiệp không nên xây dựng kế hoạch kinh doanh dựa trên kỳ vọng lãi suất sẽ sớm giảm. Thay vào đó, cần tính toán các kịch bản chi phí vốn tăng, chủ động phương án tài chính khi điều kiện tín dụng thay đổi.
Đa dạng hóa nguồn vốn
Đề cập tới nguồn vốn trong bối cảnh hiện nay, PGS, TS. Đặng Ngọc Đức - Viện trưởng Viện Công nghệ tài chính, Trường Đại học Đại Nam - cho rằng doanh nghiệp cần giảm dần sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng truyền thống, chủ động tìm kiếm các kênh huy động vốn phù hợp với quy mô và nhu cầu phát triển.
Doanh nghiệp có thể tận dụng các chương trình tín dụng ưu đãi dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực sản xuất, xuất khẩu; đồng thời mở rộng huy động vốn qua thị trường chứng khoán, phát hành trái phiếu hoặc cổ phiếu đối với những doanh nghiệp đáp ứng đủ điều kiện. Việc hợp tác với quỹ đầu tư, đối tác chiến lược thông qua liên doanh, mua bán và sáp nhập cũng giúp bổ sung nguồn lực tài chính, mở rộng thị trường.
Ông Đức cho rằng việc dụng công nghệ, khai thác dữ liệu và cải tiến quy trình sản xuất không chỉ giúp tiết giảm chi phí mà còn củng cố uy tín, tạo điều kiện thuận lợi hơn khi tiếp cận nhà đầu tư và các nguồn vốn dài hạn.
Tại một toạ đàm mới đây, ông Nguyễn Văn Mười - Chủ tịch Câu lạc bộ Doanh nghiệp Nông nghiệp Nhiệt đới (COTAB) - cho rằng, doanh nghiệp không thể phụ thuộc hoàn toàn vào tín dụng ngân hàng khi lãi suất biến động liên tục. Vì như vậy sẽ làm gia tăng chi phí tài chính và ảnh hưởng đến khả năng chủ động trong kinh doanh.
Theo ông Mười, doanh nghiệp cần từng bước đa dạng hóa nguồn vốn, hướng đến các nguồn đầu tư dài hạn để xây dựng kế hoạch phát triển ổn định, bền vững hơn. Tuy nhiên, việc tiếp cận quỹ đầu tư và các kênh huy động vốn khác không đơn giản, đặc biệt là với doanh nghiệp nông nghiệp có quy mô nhỏ, năng lực quản trị và quản lý dòng tiền còn hạn chế.
Ông Mười cho biết trong bối cảnh lãi suất còn nhiều sức ép, việc nâng cao năng lực quản trị tài chính và đa dạng hóa nguồn vốn sẽ giúp doanh nghiệp giảm sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng, chủ động hơn trước những biến động của thị trường.