Khi là đồng sáng lập Diễn đàn Nhà báo Môi trường, khi viết sáng kiến ra mắt rồi đào tạo nhiều người trẻ của Mạng lưới bảo vệ động vật hoang dã ở Việt Nam, khi đi nhiều quốc gia điều tra về bảo vệ thiên nhiên, tôi luôn trăn trở: chúng ta thật sự còn những loài gì để bảo vệ? Bạn tôi từ nhiều quốc gia ghé thăm, họ đi ngang qua nhiều con phố, vùng dân cư ở Hà Nội và TP HCM rồi nhất tề thốt lên một câu bất ngờ: “No birds” (không thấy con chim nào). Tôi giật mình, chúng tôi dường như đã quá quen với các không gian sống mà hầu như không còn tiếng chim, nên chẳng bao giờ thắc mắc nữa (?).
Không dám so sánh. Nhưng thành thực mà nói: nếu đi Mỹ, Úc, Nga, châu Phi, châu Âu…, bạn sẽ thấy thiên nhiên sum vầy lắm. Khu tôi ở, cả quê tôi làng cổ Đường Lâm nổi tiếng, cả vài vạn dân, quanh năm hầu như không nghe một tiếng chim, không thấy một con thú, ngoài việc thi thoảng, lạc lõng đôi tiếng vành khuyên bị nuôi nhốt “cầm tù” đang kêu than ảo não, mà ai đó cứ nghĩ chúng đang cất tiếng hát ru tình.
Giữa bối cảnh ấy, tôi hay nghĩ tới những nhà bảo tồn, những bạn trẻ đắm đuối với thiên nhiên, họ đã dành gần như cả sự nghiệp để quyết giữ lại các loài hoang dã cho thiên nhiên Việt Nam. Quan trọng hơn, họ còn kéo chúng lại gần, để ở không ít nơi, mỗi lần vào rừng, lên núi, khách trong và ngoài nước đều có thể chiêm ngưỡng, tương tác, quay phim, chụp ảnh các “linh vật núi rừng”. Từ chỗ được công bố tuyệt chủng trên toàn cầu, từ chỗ người dân bình thường hầu như không thể nào có cơ hội nhìn thấy ngoài tự nhiên, qua thời gian chắt chiu bảo tồn, nhiều loài đã rực rỡ, quyến rũ đã “tái xuất” hiện trong sự cảm kích của đông đảo bà con ta.
Du khách quốc tế bỏ nhiều công sức, tiêu tốn nhiều ngoại tệ, để thổn thức thưởng lãm vẻ đẹp và sự kỳ bí trong tiến hoá của nhiều loài chim, thú, nhất là những loài chỉ duy nhất có ở thiên nhiên Việt Nam. Đó là chà vá chân nâu - voọc ngũ sắc (được mệnh danh là “nữ hoàng linh trưởng”) ở Sơn Trà, TP Đà Nẵng; là loài voọc mũi hếch chỉ Việt Nam ta mới có, sinh trưởng ở các cánh rừng khu vực Khau Ca, tỉnh Tuyên Quang; rồi voọc mông trắng ở Ninh Bình và Hà Nội; voọc Cát Bà ở Hải Phòng; vượn Cao Vít ở các cánh rừng biên giới khu vực Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Độc đáo và đáng tự hào không kém là các loài chim như: hồng hoàng, Pitta bụng vằn, Giẻ cùi bụng vàng, Khướu Langbiang, Khướu đầu đen má xám, Khướu ngực cam, Khướu cánh vàng… cùng nhiều loài chim độc đáo, đặc hữu. Không ít loài, hơn nửa thế kỷ qua, có khi đã bị quy là tuyệt chủng rồi, giờ “đất lành” hơn, ta học hỏi cách tiếp cận kiến thức bảo tồn một cách bài bản và chuyên nghiệp hơn, người ta mới có biện pháp bảo vệ khôn ngoan để chúng gần như thường xuyên hiện diện trước mắt người chiêm ngưỡng…
Vấn đề quan trọng không kém là: nếu được bảo vệ, các loài hoang thú độc đáo, các cánh rừng màu nhiệm kia sẽ đem lại “ngành công nghiệp không khói” (du lịch sinh thái), với lượng “vàng thoi bạc nén” nhiều hơn chúng ta vẫn tưởng. Nguyên tắc này, dường như ngược với suy nghĩ cổ lỗ, ích kỷ và bảo thủ của những người vốn vẫn coi “chim trời cá nước”, thiên nhiên hoang dã là thực phẩm, dược liệu, là nguồn lợi cần khai thác theo kiểu “đốt, phá, trọc, trỉa”.
Sự thật ở Việt Nam (may thay) đang chứng minh rất rõ điều này: rằng, khi con hổ bị giết, chỉ đem lại một nồi cao nấu trộm với quá nhiều rủi ro pháp lý cho các đối tượng. Một con chim (“sứ giả bầu trời”) bị dính bẫy rồi giết mổ chỉ là một miếng gắp trên bàn ăn. Một cây gỗ bị xẻ trộm chỉ đem lại vài vật dụng mà công nghệ vật liệu bây giờ còn ứng dụng và sản xuất hoàn hảo hơn, với giá thành rẻ hơn nhiều. Nhưng nếu biết giữ lại, các “giáo cụ môi trường” trên sẽ thu hút khách trong và ngoài nước tới trải nghiệm một cách nhân văn; thì con thú, rừng cây ấy chắc chắn đem lại nguồn thu dài lâu, bền vững và to lớn hơn nhiều…
Trở lại câu chuyện truyền cảm hứng ở Đà Nẵng. Voọc chà vá chân nâu (tên khoa học: Pygathrix nemaeus), hay còn gọi là voọc ngũ sắc, được cả thế giới mệnh danh là “nữ hoàng linh trưởng”. Chúng là loài đặc hữu vùng Đông Dương và ít ai ngờ được: quần thể voọc ngũ sắc lớn nhất, với hơn 1,3 nghìn cá thể (thống kê chính thức từ gần 10 năm trước, con số hiện nay chắc chắn lớn hơn nhiều) mà trái đất còn giữ được, lại nằm cách trung tâm thành phố Đà Nẵng hoa lệ có khoảng chục phút lái xe. Thậm chí, với một góc chụp “cô nàng ngũ sắc” đang nô đùa bên rừng hoa tím hoang hoải trên núi Sơn Trà, hay cú nhảy phiêu linh trong mùa ghép đôi của chà vá chân nâu, bạn vẫn có thể nhìn thấy Cầu Rồng xa xa, những con tàu khổng lồ chở công-ten-nơ đang ra vào cảng Tiên Sa mơ màng. Rừng trong phố là thế.
Rất nhiều người yêu thiên nhiên, các chuyên gia hàng đầu đã tìm cách lý giải, vì sao voọc ngũ sắc ở bán đảo Sơn Trà lại được người trong và ngoài nước hâm mộ “cuồng nhiệt” đến vậy. Có lẽ, trước hết vì trời sinh ra các chàng, nàng voọc ngũ sắc quá đẹp, với hình thể và cả 5 màu lông đều quyến rũ khó tả, với tập tính kiếm ăn, cuộc sống gia đình, chăm sóc con cái, việc bắt cặp (tự tình) quá sức đáng yêu. Thứ nữa, vì núi Sơn Trà, nơi quần tụ của loài linh trưởng ngộ nghĩnh thân thiện này (cùng hơn 500 loài động vật khác nữa, trong đó có 24 loài quý hiếm “có tên trong Sách đỏ Việt Nam”) lại ở ngay gần trung tâm TP Đà Nẵng (cách chưa đầy 10km). Đặc biệt, nhờ công sức “huyền thoại” của các nhà bảo tồn, những người yêu thiên nhiên đắm đuối, họ đã “chung lưng đấu cật”, nỗ lực bao năm ròng, để voọc ngũ sắc được bình yên mà “yêu đương” rồi cứ thế đông đàn dài lũ. Cả chục năm nay, cứ hễ lên núi Sơn Trà là gặp từng bầy “nữ hoàng”; và loài này hiền lành, thơ ngộ, mơ mộng, thân thiện đến mức “thì treo giải nhất chi nhường cho ai”.
Đó là các lý do chính để voọc chà vá chân nâu trở thành hình ảnh nhận diện của TP Đà Nẵng nhân sự kiện APEC vào năm 2017. Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) được tổ chức tại Đà Nẵng, với sự tham dự của lãnh đạo 21 nền kinh tế thành viên (trong đó có Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản và Nga…), hơn 11.000 người tham dự. Khi ấy, hình ảnh voọc ngũ sắc đã tràn ngập trong các tác phẩm nghệ thuật, quà tặng và sản phẩm quảng bá dành cho đại biểu, khiến nhiều người ngạc nhiên và cảm kích.
Triển lãm ảnh “Báu vật Sơn Trà” với hơn 100 tác phẩm về “nữ hoàng linh trưởng” và đa dạng sinh học cũng được tổ chức trang trọng. Ở góc độ địa phương, thư chúc Tết của lãnh đạo TP Đà Nẵng từng được thiết kế với hình ảnh gia đình voọc ngũ sắc vô cùng đáng yêu. Ảnh chụp loài linh trưởng tuyệt sắc này, với đủ “nam phụ lão ấu” cũng “tưng bừng trình diễn” trên nhiều xe buýt, nhà chờ xe buýt, các quán cà phê, nhà hàng, khu nghỉ dưỡng…
Với tôi, mỗi lần trở lại Sơn Trà ngắm voọc, vẫn luôn thổn thức nghĩ về công sức của những người dũng cảm và tận tâm, “khai sơn phá thạch”, đưa loài động vật vốn bị săn lùng để làm đặc sản, nấu cao - bao năm lẩn lút đứng trước nguy cơ tuyệt diệt - kia trở về. Chúng thân thiện tạo dáng, khoe sắc đủ 24/7 như hiện nay. Mà hơn 1,3 nghìn “nữ hoàng”, với hơn 230 đàn, chứ không phải là ít.
“Tái ngộ” tôi vào cuối tháng 10/2026, Tiến sĩ Hà Thăng Long, các nhà bảo tồn Lê Thị Trang, Bùi Văn Tuấn vẫn không thôi cảm xúc về những ngày tận hiến cho nỗi khát khao mang tên “nữ hoàng linh trưởng”. Với nhiều năm kinh nghiệm làm bảo tồn động vật hoang dã, trải qua nhiều dự án thành công và từng đoạt giải thưởng danh giá “TOP 10 nhà bảo tồn trẻ xuất sắc thế giới”, từng làm việc với những nhân vật huyền thoại của thế giới như nhà bảo tồn danh tiếng Jane Goodall, từng tham gia các khóa học đặc biệt tại Mỹ về môi trường, đến nay, Trang vẫn gọi câu chuyện ở Sơn Trà là “câu chuyện truyền cảm hứng đặc biệt”.
với các chuyến đi học tập và tham quan về bảo tồn động vật hoang dã, quý hiếm tại Hoa Kỳ.
(Từ trái qua: Bùi Văn Tuấn, Lê Thị Trang, bà Jane Goodall và Bùi Hữu Vĩ).
Theo đó, vào năm 2012, vì yêu thiên nhiên, TS Hà Thăng Long, Tuấn, Trang và cộng sự đã đứng ra thành lập tổ chức GreenViet (Nước Việt xanh) trực thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam - TP Đà Nẵng. Lúc đầu, chỉ vì suy nghĩ giản dị: không lẽ “đóng đô” cơ quan mình ở Đà Nẵng, mà ngay kế bên thành phố hoa lệ này có một khu bán đảo có diện tích gần 4,5 nghìn héc-ta, có mức độ đa dạng sinh học cao với hơn 500 loài, có loài voọc ngũ sắc đẹp lộng lẫy thế, mà lại chẳng bảo vệ được ư? Thế thì còn “vác mặt” đi bảo vệ màu xanh nước Việt ở đâu được nữa?
Họ xông vào làm công tác bảo tồn, với tất cả nhiệt huyết của tuổi trẻ, ê kíp toàn những người uy tín, anh Long là người Việt Nam đầu tiên bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ tại Đại học Cambridge (Vương quốc Anh) về bảo tồn loài chà vá (vọc). Anh Long cũng là Trưởng đại diện của Hội động vật học Frankfurt Zoological Society (Đức) tại Việt Nam; Thạc sĩ sinh thái học Trần Hữu Vỹ; chuyên gia linh trưởng nổi tiếng Bùi Văn Tuấn…
Ban đầu, đúng là “vạn sự khởi đầu nan”. Có khi phải mất vài tháng để các bạn “khỉ” (lúc đầu nhiều bà con còn không phân biệt được khỉ với voọc, vượn) bớt sợ người. Phải bám theo, thân thiện, kiên trì, để “khỉ rừng” quen dần với hình dáng, màu trang phục của các chuyên gia bảo tồn; đồng thời, “nằm vùng” giữa xanh thắm, cũng là cách để anh chị em làm cho bay bớt “hơi người” của mình đi, nhằm tìm kiếm cơ hội tiếp cận với các “cô nàng (voọc) ngũ sắc” giữa hoang vu.
Rõ khổ, anh em bám theo đàn voọc đủ cả lớn bé, già trẻ, mẹ con để thu thập mẫu… phân của chúng. Phải lấy gấp từ lúc phân chưa… nguội, để phân tích được các vi sinh vật ở đó, nhằm hiểu và so sánh tập tính, các loại thức ăn của voọc Sơn Trà với các loài linh trưởng khác. Cả giai đoạn dài như thế, bẫy dây, bẫy sập các loại vẫn tràn lan, rất nhiều cá thể voọc ngũ sắc bị giết, đem đi nấu cao. Nhiều “nữ hoàng” xinh đẹp bị dính bẫy làm cho cụt mất “chân”, “tay”.
Nhiều nhà khoa học nước ngoài, sau khi nghiên cứu, bấy giờ, đã gửi thông điệp trên truyền thông, gọi quần thể voọc ngũ sắc ở Sơn Trà là “kho báu mong manh”. Sau này, voọc ở Sơn Trà bình yên hơn nhiều, với sự lên tiếng đích đáng của nhiều trí thức, chuyên gia, hàng trăm bài báo ủng hộ dự án giữ gìn linh trưởng và đa dạng sinh học.
Như thế đủ hiểu khó khăn chồng chất trong giai đoạn “khởi sự” dự án cứu “nữ hoàng linh trưởng” từ 14 năm trước… đến mức nào. Hơn một lần, nhà bảo tồn Trần Hữu Vỹ bộc bạch: “Chúng tôi đều tự nguyện tham gia dự án, vì tình yêu động vật rừng và vui vẻ… tự trả lương cho mình. Lúc đầu chưa có tài trợ, các thành viên đi dạy kèm, đi làm thuê ở nơi khác, có tiền, quay lại, xông pha cho dự án bảo vệ hoang thú”.
Có thành viên mắc võng ngủ trên rừng dài ngày, căng bạt che mưa núi, bị vắt cắn lêu lao máu, rồi Bùi Văn Tuấn (thành viên trong nhóm GreenViet) còn bị sốt xuất huyết phải nhập viện khi đắm đuối bảo vệ “các nàng ngũ sắc”.
Nhiều thành viên đã tận tụy, gom góp tiền, in phóng ảnh voọc ngũ sắc khổ lớn đi tặng bà con, với hy vọng họ sẽ treo ở nhà, quán cà phê hay khu khách sạn, nghỉ dưỡng, nhằm “tiếp thị” nâng cao nhận thức bảo tồn. Ai ngờ, lắm khi họ bị người mê tín đuổi quầy quậy, họ bảo, đem con “khỉ” về treo là đen vận lắm: “Nuôi ong tay áo, nuôi khỉ dòm nhà”, “khỉ” nó hại người đó. Đi đi. Anh chị em ngậm ngùi: tài liệu khoa học về vẻ đẹp, giá trị quý của loài này đã chính thức được công bố và cả thế giới ngưỡng mộ chúng, lo lắng cho chúng. Trong khi đó, người dân sở tại vẫn chưa nhận thức được những điều trên mà lại còn coi “nữ hoàng linh trưởng” là thứ đem đến vận rủi. “Lỗi do ai? Do chính chúng ta!”, một thành viên tự hỏi rồi tự buông ra kết luận đanh thép. Ai nấy thấy quá đúng và lại tiếp tục làm những việc ít ai từng làm: đi tặng ảnh, vận động hãy “thương yêu” các nữ hoàng linh trưởng.
Tiến sĩ Hà Thăng Long nhớ lại: “Để đi đầu trong việc nâng cao nhận thức về bảo tồn “nữ hoàng linh trưởng” ở cái thời hơn 10 năm trước - khi mà đường xá lên Sơn Trà còn khó khăn, không ai biết trên núi có bao nhiêu “con khỉ” (voọc) và giá trị của chúng ra sao, thậm chí, muốn ngắm voọc phải xin phép các lực lượng quản lý, thuê tàu thuyền ra biển nhòm vào - chúng tôi đã phải rất công phu. Ban đầu chúng tôi đã khéo léo tận dụng thế mạnh của Đà Nẵng là thành phố du lịch năng động. Ví dụ, năm 2013, khi khánh thành Cầu Rồng nổi tiếng (có “rồng phun lửa” vào mỗi cuối tuần), chúng tôi bèn in áo phông có hình con chà vá chân nâu, đi phát khoảng 1.000 chiếc cho du khách. Chúng tôi cũng làm việc với taxi Mai Linh, để họ cho chúng tôi treo cái hình con voọc ở lưng ghế lái và ghế phụ trên xe, để hành khách ngồi phía sau họ dễ dàng trông thấy. Chúng tôi cũng làm bưu thiếp, đặt các tấm ảnh voọc chà vá chân nâu thật hoành tráng ở sân bay Đà Nẵng, cửa ngõ quan trọng đón chào khách trong và ngoài nước”.
Trả lời Tiền Phong, Tiến sĩ Tilo Nadler (chuyên gia của Hội động vật Frankfurt - CHLB Đức, người nổi tiếng với hơn 30 năm sống ở Việt Nam để tận hiến cho bảo tồn thiên nhiên và đã được Nhà nước Việt Nam trao tặng Huân chương Lao động hạng Ba) đánh giá cao “mô hình truyền cảm hứng” trong bảo vệ các “nữ hoàng linh trưởng” ở Sơn Trà, Đà Nẵng. Ông nhấn mạnh: gần đây, Việt Nam đã thành công trong bảo tồn được các loài quý, hiếm và tuyệt đẹp như voọc ngũ sắc, voọc mông trắng… - tạo điều kiện cho chúng sinh sống ổn định, phát triển đàn tốt và thân thiện trong tầm chiêm ngưỡng của người dân, du khách (như ở bán đảo Sơn Trà, các khu Vân Long, Tràng An) - đã giúp hiện thực hóa các giấc mơ tử tế đáy lòng của tất cả các nhà bảo tồn chân chính. Đó cũng có thể xem là “niêu cơm Thạch Sanh” trong phát triển du lịch sinh thái và phục vụ cuộc sống nhân văn, tốt đẹp hơn của cả cộng đồng rộng lớn, để các thế hệ sau có thể vui sướng thấy động vật hoang dã trong rừng, chứ không chỉ…trên sách báo, trong bảo tàng, vườn thú.
(còn nữa)