Hải quan đồng hành cùng doanh nghiệp, cải cách thủ tục trong kỷ nguyên số

Hải quan đồng hành cùng doanh nghiệp, cải cách thủ tục trong kỷ nguyên số

longform-hai-quan-s1.jpg

Sáng 1/6/2026, tại Hải Phòng, Chi cục Hải quan khu vực III chính thức thí điểm mô hình thông quan tập trung - bước thay đổi đáng chú ý trong cách tổ chức xử lý thủ tục hải quan.

Thay vì hồ sơ được xử lý phân tán tại từng đơn vị cửa khẩu như trước, các khâu tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ và xử lý thông quan được tập trung về Đội Thông quan, một đơn vị mới thành lập của Chi cục Hải quan khu vực III.

Ngay trong buổi sáng đầu tiên, gần 400 tờ khai xuất nhập khẩu đã được tiếp nhận, xử lý theo mô hình mới. Hàng hóa vẫn lưu chuyển qua các cảng, doanh nghiệp vẫn khai báo trên hệ thống như thường lệ, nhưng phía sau màn hình, hồ sơ được chuyển về một đầu mối để xử lý thống nhất.

Sau hơn một tháng triển khai, trên 64.000 tờ khai đã được xử lý theo mô hình thông quan tập trung, thời gian thông quan bình quân giảm khoảng 16%.

Với doanh nghiệp có hàng nằm tại cảng, thời gian giảm xuống đồng nghĩa chi phí lưu kho, lưu bãi, thuê phương tiện và nguy cơ chậm giao hàng cũng được tiết giảm.

thong-quan-tap-trung.jpg
Cục trưởng Hải quan Nguyễn Văn Thọ kiểm tra hoạt động trong ngày đầu thí điểm mô hình thông quan tập trung tại

Ông Vũ Ngọc Lâm - Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Hải Phòng - cho rằng những thay đổi từ điện tử hóa thủ tục, số hóa hồ sơ đến tăng đối thoại, tháo gỡ vướng mắc của ngành hải quan đang tạo thuận lợi rõ hơn cho doanh nghiệp. “Với doanh nghiệp, tiết kiệm thời gian chính là tiết kiệm chi phí”, ông Lâm chia sẻ.

Đại diện EuroCham cũng đánh giá hải quan là một trong những lĩnh vực có tốc độ cải cách mạnh, trong đó quan hệ giữa cơ quan quản lý và doanh nghiệp đang từng bước chuyển theo hướng đối tác, đồng hành.

Hiệu quả của cải cách thể hiện rõ hơn ở các doanh nghiệp có khối lượng xuất nhập khẩu thường xuyên. Tại Công ty TNHH Giày Ching Luh Việt Nam - doanh nghiệp gia công giày dép cho nhiều thương hiệu quốc tế - tỷ lệ tờ khai luồng xanh đạt 94,6%, thời gian xử lý một tờ khai luồng xanh chỉ khoảng 3 giây.

Những giây ngắn ngủi trên hệ thống là kết quả của cách quản lý dựa nhiều hơn vào dữ liệu và mức độ tuân thủ. Doanh nghiệp có lịch sử chấp hành tốt được tạo thuận lợi, trong khi nguồn lực kiểm tra được tập trung cho những lô hàng và chủ thể có dấu hiệu rủi ro cao hơn.

Thông quan tập trung vì thế không đơn thuần là gom hồ sơ về một nơi. Mô hình hướng tới xử lý thống nhất, chuyên sâu, phi giấy tờ và hạn chế tiếp xúc trực tiếp. Khi cùng một chính sách được áp dụng theo một chuẩn, doanh nghiệp dễ dự báo hơn thời gian và yêu cầu thủ tục; cán bộ hải quan cũng có điều kiện chuyên môn hóa từng khâu nghiệp vụ.

kv-viihq105048.jpg
kv-viihq105300.jpg
kv-viihq105165.jpg
Việc áp dụng mô hình mới giúp rút ngắn thời gian thông quan, giảm chi phí cho doanh nghiệp.

Sau kết quả thí điểm tại Hải Phòng, Cục Hải quan cho biết đang đánh giá khả năng đáp ứng và xây dựng kế hoạch triển khai tiếp theo. Một số đơn vị như Hải quan khu vực II, IX, XVI đã thành lập tổ triển khai, nghiên cứu phương án tổ chức, nhân lực, cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ để sẵn sàng cho mô hình mới.

longform-hai-quan-s2.jpg

Trong bối cảnh chính sách thương mại, thuế và quản lý xuất nhập khẩu liên tục thay đổi, kéo theo nhiều quy định về trị giá, xuất xứ, kiểm tra chuyên ngành, các đơn vị hải quan thường xuyên tổ chức đối thoại với doanh nghiệp để kịp thời giải đáp, tháo gỡ vướng mắc, bảo đảm hoạt động xuất nhập khẩu thông suốt.

Tại Chi cục Hải quan khu vực I, những cuộc gặp với doanh nghiệp không chỉ nhằm phổ biến quy định mới mà còn là dịp ghi nhận những vướng mắc phát sinh từ thực tế hoạt động xuất nhập khẩu.

Ông Nguyễn Mạnh Tuấn - Phó Chi cục trưởng Chi cục Hải quan khu vực I - cho biết cải cách hiện nay gắn với việc tổ chức mô hình quản lý tinh gọn hơn, tăng ứng dụng dữ liệu số và quản lý rủi ro trong các khâu nghiệp vụ.

Một trong những nội dung được cơ quan hải quan giới thiệu tới cộng đồng doanh nghiệp là Chương trình khuyến khích doanh nghiệp tự nguyện tuân thủ pháp luật hải quan.

Theo cơ chế này, doanh nghiệp khai báo minh bạch, có mức độ tuân thủ tốt và rủi ro thấp được tạo thuận lợi hơn khi làm thủ tục. Ngược lại, nguồn lực kiểm tra được tập trung vào những trường hợp có nguy cơ vi phạm hoặc gian lận cao.

Cách tiếp cận này nhằm giảm việc kiểm tra dàn trải, đồng thời tạo động lực để doanh nghiệp chủ động nâng mức độ tuân thủ.

5-01-cuc-hq-thanh-hoa-le-thi-phong-nhan.jpg
43-02-cuc-hai-quan-quang-ngai.jpg
39-03-cuc-hai-quan-hai-phong-tran-huy-cuong.jpg
dsc05804.jpg

Hải quan khu vực I cũng nghiên cứu ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong nhận diện chứng từ, hỗ trợ số hóa hồ sơ, khai báo và xây dựng công cụ trao đổi dữ liệu với doanh nghiệp gia công, sản xuất xuất khẩu, doanh nghiệp chế xuất.

Tại Hưng Yên, hơn 170 doanh nghiệp mới đây đã cùng Hải quan khu vực IV trao đổi trực tiếp về tham vấn trị giá, chính sách thuế, kiểm tra chuyên ngành và những quy định mới. Những vấn đề thuộc thẩm quyền được giải đáp ngay tại hội nghị; nội dung vượt thẩm quyền được ghi nhận, tổng hợp để chuyển cấp có thẩm quyền xem xét.

Trong nửa đầu năm 2026, Hải quan khu vực XVII (Tây Ninh) tiếp nhận và xử lý 79 vướng mắc của doanh nghiệp. Khi lượng phương tiện tăng cao tại cửa khẩu quốc tế Mộc Bài và khu vực Trảng Bàng, yêu cầu đặt ra không chỉ là giải quyết một bộ hồ sơ mà còn phải giữ dòng xe chở hàng không bị tắc nghẽn.

Cơ quan hải quan phối hợp với chính quyền và các lực lượng tại cửa khẩu phân luồng phương tiện, điều tiết giao thông, tổ chức xử lý thủ tục để hoạt động xuất nhập khẩu không bị đứt quãng.

Chia sẻ với PV Tiền Phong, lãnh đạo Cục Hải quan cho biết, trong 6 tháng đầu năm 2026, toàn ngành đã tổ chức 121 hội nghị, hội thảo, tọa đàm với người dân và doanh nghiệp; giải đáp 1.394 kiến nghị bằng văn bản; hướng dẫn trực tiếp 1.917 lượt người khai hải quan và hỗ trợ 3.209 yêu cầu qua điện thoại.

Các kênh hỗ trợ cũng ngày càng đa dạng hơn. Ở một số cửa khẩu biên giới phía Nam, phần mềm quản lý phương tiện được sử dụng để rút ngắn thời gian xử lý phương tiện xuất nhập cảnh; một số đơn vị nhận đăng ký kiểm tra hàng hóa qua mã QR, hỗ trợ doanh nghiệp qua thư điện tử, Zalo và đường dây nóng.

Với doanh nghiệp có container đang nằm tại cảng hoặc xe đã tới cửa khẩu, một hướng dẫn đúng lúc có thể giúp tránh phải sửa hồ sơ nhiều lần hoặc mất thêm một ngày chờ đợi.

Qua các cuộc đối thoại, một số điểm nghẽn cũng được nhận diện rõ hơn, như cách hiểu và thực hiện quy định giữa doanh nghiệp, địa bàn còn chưa đồng đều; kiểm tra chuyên ngành còn nhiều đầu mối; dữ liệu giữa hải quan, cảng, hãng tàu, kho bãi và doanh nghiệp chưa phải lúc nào cũng liên thông.

hq103539-4931.jpg

Để xử lý những bất cập này, ngành Hải quan đang chuẩn hóa quy trình nghiệp vụ, mở rộng mô hình thông quan tập trung nhằm thống nhất cách xử lý hồ sơ và áp dụng chính sách giữa các đơn vị. Song song đó, hệ thống công nghệ thông tin Hải quan số, Cổng thông tin một cửa quốc gia và kết nối Cơ chế một cửa ASEAN tiếp tục được triển khai để tăng khả năng chia sẻ, tái sử dụng dữ liệu.

Song song với đó, việc quản lý ngày càng dựa nhiều hơn vào dữ liệu, mức độ tuân thủ và đánh giá rủi ro. Thay vì kiểm tra dàn trải, cơ quan hải quan tập trung nguồn lực vào những đối tượng, lĩnh vực có nguy cơ cao, trong khi doanh nghiệp chấp hành tốt được giảm bớt các khâu kiểm tra không cần thiết

Đặc biệt, thực hiện chủ trương của Chính phủ, Bộ Tài chính đang xây dựng đề án thống nhất giao cơ quan hải quan thực hiện kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, phương tiện xuất nhập cảnh ngay tại cửa khẩu. Nếu được triển khai đồng bộ, việc này sẽ giúp giảm đầu mối, hạn chế tình trạng doanh nghiệp phải đi qua nhiều cơ quan cho cùng một lô hàng.

longform-hai-quan-s3.jpg

Theo Cục Hải quan, cải cách thủ tục hiện không chỉ dừng lại ở việc chuyển một bộ hồ sơ giấy thành hồ sơ điện tử. Trong 6 tháng đầu năm 2026, ngành Hải quan đã cắt giảm, đơn giản hóa 66 thủ tục hành chính, trong đó bãi bỏ 39 thủ tục và đơn giản hóa 27 thủ tục; cắt giảm 2 ngành nghề kinh doanh có điều kiện và 14 điều kiện kinh doanh. Hơn 11,8 triệu hồ sơ hành chính được tiếp nhận, xử lý trên môi trường điện tử.

Với một số lĩnh vực như đại lý làm thủ tục hải quan, kinh doanh hàng miễn thuế hay kho bảo thuế, nhiều khâu xin công nhận, cấp phép trước được chuyển sang cơ chế thông báo điện tử, đáp ứng tiêu chuẩn hoạt động, doanh nghiệp tự chịu trách nhiệm và cơ quan quản lý tăng hậu kiểm.

Thay vì kiểm tra đều tất cả doanh nghiệp, hải quan dựa ngày càng nhiều vào dữ liệu, lịch sử tuân thủ và các chỉ báo rủi ro để lựa chọn đối tượng cần kiểm tra.

10-cuc-hai-quan-can-tho.jpg
dsc03921.jpg
03-cuc-hai-quan-can-tho.jpg
Ngành Hải quan nỗ lực cải cách, cắt giảm thủ tục hành chính, đồng hành cùng doanh nghiệp.

Cục Hải quan dẫn Nghị định 273/2026/NĐ-CP về kinh doanh hàng miễn thuế làm một ví dụ. Theo quy định mới, dữ liệu liên quan hàng đưa vào kho, luân chuyển, bán, giao, tiêu hủy và quyết toán được kết nối với hệ thống hải quan.

Danh sách hàng từ nội địa đưa vào cửa hàng hoặc kho hàng miễn thuế được gửi bằng phương thức điện tử. Cơ quan hải quan phản hồi trong thời hạn quy định và việc kiểm tra thực tế được tập trung vào những trường hợp có dấu hiệu nghi ngờ hoặc rủi ro.

Như vậy, quản lý được dịch chuyển dần từ việc kiểm tra từng tập hồ sơ sang theo dõi dòng dữ liệu của hàng hóa trong suốt quá trình hoạt động.

Theo lãnh đạo Cục Hải quan, chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm không đồng nghĩa nới lỏng quản lý. Doanh nghiệp được chủ động hơn nhưng đồng thời phải khai báo chính xác, lưu giữ dữ liệu đầy đủ và chịu trách nhiệm về việc tuân thủ pháp luật.

Ở chiều ngược lại, cơ quan hải quan phải có khả năng phân tích và cảnh báo rủi ro tốt hơn để kiểm tra đúng đối tượng, tránh để doanh nghiệp chấp hành tốt phải chịu cùng mức độ kiểm soát với chủ thể có nguy cơ gian lận cao.

Đây cũng là cơ sở để ngành Hải quan tiến tới xây dựng hệ thống công nghệ thông tin Hải quan số thay thế VNACCS/VCIS, tiếp tục mở rộng Cơ chế một cửa quốc gia và nghiên cứu, thử nghiệm các công cụ sử dụng trí tuệ nhân tạo trong hỗ trợ tra cứu, xử lý nghiệp vụ.

03.jpg
dsc00224-5832.jpg
dsc07252.jpg
hq107933-3560.jpg

Mục tiêu là tiến tới một hệ thống trong đó dữ liệu được kết nối từ trước khi hàng đến cửa khẩu, xuyên suốt quá trình khai báo, thông quan, giám sát và hậu kiểm.

Trong kỷ nguyên số, sự đồng hành của Hải quan vì thế không chỉ được đo bằng tốc độ xử lý trên hệ thống, mà bằng việc doanh nghiệp phải đi ít vòng hơn, thủ tục được áp dụng thống nhất hơn, vướng mắc được xử lý kịp thời hơn và dòng hàng qua cửa khẩu thông suốt, đúng quy định.