Chỉ sau ba đêm công diễn đầu tiên tại Nhà hát Hồ Gươm, vở nhạc kịch Giấc mơ Chí Phèo đã phải mở thêm các suất diễn vì tình trạng cháy vé.
Những tấm vé từ 700.000 đồng đến 3 triệu đồng liên tục được khán giả đặt hết veo, buộc ê-kíp phải mở thêm các đêm diễn. Phải biết rằng, để một tác phẩm bước lên sân khấu, không chỉ có công sức của diễn viên và nhạc công.
Đó còn là nhiều tháng lao động của biên kịch, đạo diễn, nhạc sĩ, biên đạo múa, họa sĩ thiết kế mỹ thuật, thiết kế phục trang, kỹ sư âm thanh, ánh sáng, kỹ thuật sân khấu, truyền thông, phát hành vé, quản lý bản quyền...
Xa hơn nữa là những quán cà phê, nhà hàng, dịch vụ vận chuyển, lưu trú quanh khu vực nhà hát cũng hưởng lợi từ dòng khán giả tìm đến thưởng thức chương trình. Chính ở đó, một tác phẩm nghệ thuật bắt đầu bước vào chuỗi giá trị của công nghiệp văn hóa.
Như vậy, dưới góc nhìn kinh tế, Giấc mơ Chí Phèo cũng là một sản phẩm văn hóa tạo ra doanh thu, việc làm và giá trị gia tăng cho nhiều ngành nghề khác nhau. Giá trị của vở diễn không dừng lại ở số lượng ghế được lấp đầy trong khán phòng, mà còn nằm ở chuỗi hoạt động sáng tạo được kích hoạt trước, trong và sau mỗi đêm diễn. Đây cũng là điều làm nên bản chất của công nghiệp văn hóa.
Trong nhiều năm, khi nói đến phát triển văn hóa, chúng ta thường quen với những con số như bao nhiêu lễ hội được tổ chức, bao nhiêu bảo tàng được xây dựng hay bao nhiêu di tích được tu bổ. Nhưng công nghiệp văn hóa lại được đo bằng hệ quy chiếu của những sản phẩm được tạo ra, số lượng bản quyền được khai thác, số lượng doanh nghiệp sống bằng sáng tạo, số lượng việc làm được hình thành và những giá trị được đóng góp cho nền kinh tế.
Vì vậy, khi Quy hoạch Thủ đô và Nghị quyết số 02-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2035, công nghiệp văn hóa đóng góp từ 10% GRDP trở lên, giới chuyên môn cho rằng đây không đơn thuần là một chỉ tiêu tăng trưởng. Đó là lời khẳng định rằng văn hóa không chỉ được gìn giữ như một tài sản tinh thần, mà phải trở thành một nguồn lực phát triển của thành phố.
TS. Võ Trí Thành, nguyên Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu quản lý Kinh tế Trung ương, Viện trưởng Viện nghiên cứu Chiến lược thương hiệu và cạnh tranh khẳng định, văn hóa kết hợp với kinh tế có thể tạo ra tính lan tỏa mạnh mẽ. Công nghiệp văn hóa nhờ sự tương tác, lan tỏa có thể tạo ra sức mạnh mềm, tạo nên vị thế của một quốc gia. Trên thế giới đã có rất nhiều quốc gia như Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc... có nền kinh tế phát triển với điểm nhấn là công nghiệp văn hóa.
“Có những nghiên cứu cho thấy Việt Nam có những lợi thế so sánh, lợi thế cạnh tranh lớn, ví dụ như trong lĩnh vực thời trang, kiến trúc đặc biệt là thiết kế nội thất, đồ thủ công mỹ nghệ... một số năm gần đây có thêm công nghiệp biểu diễn, quảng cáo, phim ảnh... Đã có những bộ phim, những concert doanh thu mấy trăm tỉ đồng. Đó chính là di sản của công nghiệp văn hóa. Hay như chương trình âm nhạc tổ chức dịp kỷ niệm đại lễ A80 đã cho thấy tính lan tỏa của sức mạnh tinh thần cực kỳ mạnh mẽ. Từ sự thay đổi về tư duy bắt đầu dẫn đến sự thay đổi về chính sách. Công nghiệp văn hóa thực tế là một sân chơi, một thị trường hoàn toàn có thể phát triển mạnh. Sự phát triển ấy lại tương thích với góc nhìn về phát triển, về chính sách mới của Đảng và Nhà nước”, ông nói.
Hà Nội có lợi thế mà rất ít đô thị trong khu vực sở hữu. Gần 6.000 di tích lịch sử - văn hóa, khoảng 1.350 làng nghề và làng có nghề, hàng nghìn di sản văn hóa phi vật thể, cùng đội ngũ đông đảo nghệ sĩ, nhà thiết kế, kiến trúc sư, người làm nội dung sáng tạo... tạo nên một nguồn tài nguyên văn hóa đặc biệt. Đây chính là "nguyên liệu" để hình thành các ngành công nghiệp văn hóa.
Tuy nhiên, nghịch lý nằm ở chỗ, mặc dù vốn liếng dồi dào, Hà Nội hiện vẫn chưa thống kê được mỗi năm các tài sản ấy tạo ra bao nhiêu giá trị kinh tế; bao nhiêu việc làm được sinh ra từ văn hóa; bao nhiêu doanh nghiệp đang sống bằng sáng tạo; bao nhiêu sản phẩm văn hóa mang thương hiệu Hà Nội có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế?
Trả lời câu hỏi của phóng viên Tiền Phong về việc mục tiêu công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 10% GRDP vào năm 2035 sẽ được tạo ra từ đâu, TS kinh tế Trần Minh Thành (Trường Khoa học Liên ngành và Nghệ thuật - ĐHQG Hà Nội) cho rằng, câu trả lời không nằm ở những công trình văn hóa đồ sộ hay vài sự kiện có sức hút truyền thông. Một lễ hội có thể thu hút hàng chục nghìn người, một nhà hát hiện đại có thể trở thành biểu tượng kiến trúc, nhưng nếu những giá trị ấy chỉ dừng lại ở một thời điểm hay một không gian nhất định, đóng góp cho nền kinh tế vẫn rất hạn chế.
Theo ông, nền tảng của công nghiệp văn hóa phải được hình thành từ vô số hoạt động sáng tạo diễn ra mỗi ngày. Đó có thể là một vở nhạc kịch bán được vé và tiếp tục lưu diễn, một bộ phim được phát hành ra thị trường quốc tế, một sản phẩm gốm của làng nghề tìm được đơn hàng xuất khẩu, một bộ sưu tập thời trang đưa chất liệu truyền thống vào thiết kế đương đại, một trò chơi điện tử khai thác kho tàng văn hóa Việt hay một không gian sáng tạo đủ sức giữ chân du khách nhiều lần quay trở lại.
Mỗi sản phẩm, nếu có khả năng bước ra thị trường, đều có thể tạo ra doanh thu, việc làm và những giá trị mới. Chính từ hàng nghìn chuỗi giá trị như vậy, chứ không phải từ vài dự án đơn lẻ, mục tiêu 10% GRDP mới dần được hiện thực hóa.
Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt mục tiêu đến năm 2030, tỷ trọng công nghiệp văn hóa của Hà Nội đạt khoảng 9% GRDP và đến năm 2035 đạt từ 10% trở lên. PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội nhìn nhận, đây là mục tiêu cao nhưng có cơ sở để Hà Nội theo đuổi.
Ông cho rằng nền tảng của Thủ đô nằm ở kho di sản dày đặc, đội ngũ nghệ sĩ và lao động sáng tạo đông đảo, hệ thống trường đại học, viện nghiên cứu, các làng nghề cùng thị trường tiêu dùng có quy mô lớn. Tuy nhiên, tài nguyên phong phú không tự động chuyển hóa thành GRDP.
Một di tích có thể rất quý nhưng không vì thế mà lập tức tạo ra việc làm. Một nhà máy cũ có thể giàu ký ức nhưng vẫn chỉ là khu đất bỏ không nếu không có cơ chế đưa nó vào sử dụng. Một nghệ sĩ có thể sở hữu ý tưởng tốt nhưng khó làm ra sản phẩm nếu thiếu sân khấu, vốn đầu tư, nhà phân phối và cơ chế bảo vệ bản quyền.
Bởi vậy, theo phân tích của PGS.TS Bùi Hoài Sơn để đạt mục tiêu này, trước hết phải tháo dỡ được điểm nghẽn về không gian sáng tạo. Nghệ sĩ thị giác cần xưởng làm việc; đoàn biểu diễn cần sân khấu và phòng tập; nhà làm phim cần trường quay; nhà thiết kế cần không gian thử nghiệm vật liệu; doanh nghiệp nội dung số cần studio; các nhóm sáng tạo trẻ cần một địa chỉ có chi phí đủ thấp để khởi đầu. Không gian có thể nói chính là hạ tầng sản xuất của công nghiệp văn hóa, tương tự nhà xưởng đối với ngành chế tạo hay phòng thí nghiệm đối với công nghệ.
Hà Nội không thiếu những tài sản có khả năng thực hiện vai trò ấy. Các nhà máy cũ, kho xưởng, công trình công nghiệp và nhiều khu vực chuyển đổi chức năng có thể trở thành nơi làm việc, trình diễn, kinh doanh và gặp gỡ của cộng đồng sáng tạo.
Trường hợp Nhà máy Xe lửa Gia Lâm đã hé ra sức gợi đặc biệt của một không gian công nghiệp khi được mở ra cho nghệ thuật và thiết kế. Trong khuôn khổ lễ hội thiết kế sáng tạo, nhà máy gần 120 năm tuổi đã được biến chuyển công năng, trở thành nơi để kiến trúc sư, nghệ sĩ và người trẻ trình diễn, thử nghiệm, kết nối di sản công nghiệp với đời sống đô thị đương đại.
Họa sĩ Thu Trần, người từng tham gia triển lãm ở Nhà máy Xe lửa Gia Lâm cho biết: “Sức hấp dẫn của mô hình này chính là ở lịch sử và bối cảnh của nó. Một khu công nghiệp cũ có diện tích lớn, kết cấu đặc trưng và lớp ký ức riêng là điều mà một trung tâm triển lãm xây mới chưa chắc tạo được. Khi đưa hoạt động sáng tạo vào đó, thành phố đồng thời giải quyết nhiều bài toán: bảo tồn dấu tích công nghiệp, tạo địa điểm cho nghệ thuật, mở thêm điểm đến du lịch và đánh thức giá trị kinh tế của những không gian vốn chưa được khai thác đúng mức”.
Ông Lê Quang Bình, điều phối viên của mạng lưới Vì một Hà Nội đáng sống cũng chia sẻ: “Việc chuyển các nhà máy cũ thành không gian sáng tạo sẽ cung cấp thêm không gian công cộng cho người dân Hà Nội, giải tỏa bớt sự ngột ngạt của đô thị. Nó tạo ra cơ sở hạ tầng cho ngành công nghiệp văn hóa, là nơi ươm các start-up của giới làm sáng tạo.
Các không gian sáng tạo chuyển đổi từ các khu công nghiệp có diện tích lớn, là nơi tổ chức các sự kiện văn hóa, kinh tế, chính trị tầm cỡ khu vực và quốc tế. Chính vì vậy, nhà nước cần đóng một vai trò quan trọng trong việc xây dựng khung pháp lý cho sự chuyển đổi, đầu tư vào việc chuyển đổi, và có chính sách khuyến khích các thành phần khác tham gia vào việc chuyển đổi này”.
Tuy nhiên, một không gian được mở cửa trong vài ngày lễ hội chưa đồng nghĩa với việc đã hình thành không gian sáng tạo. Điều quyết định là nơi đó có thể hoạt động quanh năm hay không phụ thuộc vào việc nghệ sĩ có được thuê mặt bằng với mức giá phù hợp hay không; doanh nghiệp có được đầu tư dài hạn hay chỉ sử dụng tạm thời; quy định về xây dựng, phòng cháy, khai thác tài sản công và chuyển đổi công năng có đủ rõ ràng để các bên dám bỏ vốn hay không.
Họa sĩ Thu Trần chia sẻ, nút thắt lớn với nhiều nghệ sĩ hiện nay chính là khoảng cách giữa việc “mượn chỗ tổ chức sự kiện” và “trao khả năng vận hành lâu dài”. Nếu một nhóm sáng tạo chỉ được sử dụng địa điểm trong thời gian ngắn, họ khó đầu tư thiết bị, xây dựng thương hiệu, đào tạo nhân lực hoặc hình thành cộng đồng khán giả. Không gian đẹp có thể tạo ra một mùa lễ hội thành công, nhưng chỉ cơ chế ổn định mới biến nó thành hạ tầng kinh tế.
Việc Hà Nội gia nhập Mạng lưới các Thành phố sáng tạo UNESCO ở lĩnh vực thiết kế cung cấp một nền tảng quốc tế đáng kể. Năm 2018, các ngành sáng tạo của thành phố được UNESCO ghi nhận đóng góp khoảng 1,49 tỷ USD, tương đương 3,7% GRDP. Từ nền xuất phát ấy tới mục tiêu từ 10% trở lên là một bước nhảy rất lớn, đòi hỏi công nghiệp văn hóa phải tăng trưởng cả về quy mô thị trường lẫn chất lượng chuỗi giá trị.
Báo cáo của Hà Nội trong Mạng lưới các Thành phố sáng tạo UNESCO cho biết, thành phố đã có hàng chục không gian sáng tạo quy mô nhỏ, đồng thời đặt vấn đề phát triển trung tâm thiết kế sáng tạo và củng cố mạng lưới các không gian này.
Lễ hội Thiết kế sáng tạo Hà Nội từng thu hút hơn 30.000 lượt người đến khoảng 50 không gian. Những con số ấy cho thấy nhu cầu xã hội đã hiện hữu, nhưng cũng làm nổi bật câu hỏi tiếp theo: Sau mùa lễ hội, bao nhiêu địa điểm còn tiếp tục mở cửa, bao nhiêu dự án có doanh thu và bao nhiêu người sáng tạo có thể sống bằng hoạt động của mình?
Hà Nội có mật độ di sản, làng nghề, nghệ sĩ và không gian sáng tạo hàng đầu cả nước, nhưng vẫn thiếu những sản phẩm công nghiệp văn hóa đủ sức định vị thương hiệu thành phố. "Đây không phải là nghịch lý của sự thiếu hụt tài nguyên, mà là nghịch lý giữa sự giàu có về tài nguyên văn hóa và năng lực chuyển hóa tài nguyên ấy thành sản phẩm, dịch vụ và thương hiệu văn hóa có sức cạnh tranh", PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương, Viện trưởng Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam khẳng định.
Hà Nội có một nền tảng mà không phải thủ đô nào trên thế giới cũng có: hệ thống di sản vật thể và phi vật thể dày đặc, các làng nghề truyền thống, đội ngũ văn nghệ sĩ, trí thức đông đảo, nhiều trường đại học và cơ sở đào tạo nghệ thuật, cùng một cộng đồng sáng tạo đang phát triển. Hà Nội cũng là Thành phố Thiết kế sáng tạo trong Mạng lưới các Thành phố Sáng tạo của UNESCO. Nhưng tài nguyên tự thân chỉ là một khâu trong chuỗi giá trị tạo nên các ngành công nghiệp văn hóa.
Muốn từ “tài nguyên” đi đến “sản phẩm, dịch vụ văn hóa”, rồi từ sản phẩm đi đến “thương hiệu”, phải có cả một hệ sinh thái dựa trên chuỗi giá trị gồm sáng tạo, thiết kế, công nghệ, đầu tư, sản xuất, phân phối, truyền thông, quyền tác giả, quyền liên quan và sự điều tiết của thị trường.
"Điểm cần tạo đột phá của Hà Nội chính là tìm kiếm các giải pháp kết nối những mắt xích đó. Chúng ta có nhiều tài nguyên rất quý nhưng chưa hình thành được nhiều chuỗi giá trị đủ mạnh. Một di sản có thể rất nổi tiếng nhưng chưa chắc đã tạo ra được hệ sinh thái sản phẩm sáng tạo xung quanh nó; một làng nghề có kỹ thuật hàng trăm năm nhưng sản phẩm có thể vẫn thiếu thiết kế, thương hiệu và hệ thống phân phối quốc tế; một nghệ sĩ tài hoa vẫn rất cần sự hỗ trợ để đưa sáng tạo của mình ra thị trường ở quy mô lớn", PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương nêu.
Hà Nội cần tập trung tạo cơ chế chuyển hóa chiều sâu văn hóa của Thủ đô thành giá trị sáng tạo mới. Khi làm được điều đó, Hà Nội mới có thể tạo ra những sản phẩm mà chỉ cần nhắc đến, công chúng trong nước và quốc tế nhận ra ngay bản sắc của Hà Nội". PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương
Nếu không gian là phần hữu hình của hệ sinh thái, thì thể chế, theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn lại quyết định những giá trị vô hình có thể đi vào thị trường hay không. “Các doanh nghiệp văn hóa thường có tài sản lớn nhất là ý tưởng, thương hiệu và quyền sở hữu trí tuệ nhưng lại khó tiếp cận tín dụng theo cách truyền thống. Chúng ta cần cơ chế cho PPP trong văn hóa, quỹ đầu tư sáng tạo, bảo lãnh tín dụng, ưu đãi thuế và đặc biệt là cơ chế định giá tài sản trí tuệ”, ông nói.
Trên thực tế, những tài sản này có khả năng tạo ra doanh thu trong nhiều năm, thậm chí vượt xa giá trị thiết bị mà doanh nghiệp sở hữu. Một nhân vật được xây dựng thành công có thể xuất hiện trong phim, trò chơi, đồ chơi, sách, thời trang và quảng cáo. Một thiết kế thủ công có thể được cấp phép sản xuất ở nhiều thị trường. Một vở diễn có thể bán vé, lưu diễn, chuyển thể, ghi hình và khai thác nhạc phim. Nhưng trong cách tiếp cận tín dụng truyền thống, những giá trị ấy rất khó được định giá và thường không được chấp nhận như tài sản bảo đảm.
Đây cũng là một nghịch lý của kinh tế sáng tạo: Doanh nghiệp có thể giàu ý tưởng nhưng lại nghèo tài sản thế chấp. Một nhà sản xuất trẻ sở hữu kịch bản tiềm năng vẫn khó vay vốn nếu không có bất động sản. Một thương hiệu thiết kế đã có cộng đồng khách hàng nhưng khó chứng minh giá trị của tên tuổi và quyền sở hữu trí tuệ trên hồ sơ tín dụng. Những nghiên cứu pháp lý của Bộ Tư pháp cũng chỉ ra nhu cầu phát triển cơ chế khai thác tài sản trí tuệ như một công cụ tài chính, đồng thời thừa nhận đây là loại tài sản đặc biệt, đòi hỏi hệ thống định giá, đăng ký và kiểm soát rủi ro phù hợp.
Một điểm nghẽn nữa đang cản trở sự phát triển của công nghiệp văn hóa hiện nay, theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn là nhân lực và doanh nghiệp dẫn dắt. Hà Nội có nguồn nghệ sĩ, nhà thiết kế, kiến trúc sư, lập trình viên và người làm nội dung rất lớn, nhưng cần tạo được những doanh nghiệp đủ mạnh để đưa sáng tạo ra thị trường quốc tế.
PGS.TS Bùi Hoài Sơn còn nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc xác lập thị trường và xây dựng thương hiệu. “Hà Nội không nên chỉ tổ chức nhiều sự kiện mà cần tạo ra những sản phẩm có khả năng sống lâu dài: lễ hội, show diễn, phim ảnh, thời trang, thiết kế, trò chơi điện tử, sản phẩm thủ công, du lịch văn hóa, nghệ thuật số… đều có thể trở thành thương hiệu của thành phố”, ông nói.
Theo phân tích của PGS.TS Bùi Hoài Sơn, một lễ hội có thương hiệu phải khiến du khách chủ động sắp xếp chuyến đi từ trước. Một show diễn có thương hiệu phải đủ hấp dẫn để bán vé qua nhiều mùa. Một sản phẩm thủ công có thương hiệu phải được nhận diện dù không đặt trong bối cảnh hội chợ. Một bộ phim, trò chơi hay thiết kế mang tinh thần Hà Nội phải đủ sức cạnh tranh ngoài địa giới của thành phố.
Giá trị nằm ở khả năng sống lâu, được lặp lại và mở rộng, chứ không chỉ ở hiệu ứng truyền thông trong những ngày diễn ra sự kiện.