Hà Nội trong tầm nhìn 100 năm - Bài 2: Giữ di sản bằng sinh kế bền vững

Hà Nội trong tầm nhìn 100 năm - Bài 2: Giữ di sản bằng sinh kế bền vững

TPO - Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm xác định "Văn hiến - Bản sắc - Sáng tạo" là giá trị cốt lõi và đặt mục tiêu công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 10% GRDP vào năm 2035. Để mục tiêu ấy trở thành hiện thực, di sản không thể chỉ được bảo vệ bằng hàng rào hay các quyết định xếp hạng, mà phải trở thành nguồn lực tạo việc làm, thu nhập và động lực để người dân tiếp tục ở lại với nghề, với làng và với chính những giá trị văn hóa mà họ là chủ thể gìn giữ.

ky-2-tit-xen-1-8402.jpg

Sáng cuối tuần, căn nhà gần 400 năm tuổi của gia đình ông Nguyễn Văn Hùng ở làng cổ Đường Lâm nhộn nhịp hơn thường ngày. Người làm chè lam, người chuẩn bị nồi cá kho tương, người quét sân, pha trà, đón những đoàn khách tìm đến xem ngôi nhà được dựng từ năm 1649.

Ông Hùng, chủ nhân đời thứ 12, lại đảm nhận vai trò của một hướng dẫn viên, kể về chiếc cổng đá ong, bộ khung gỗ mít, mái ngói mũi hài và những đồ vật đã đi qua nhiều thế hệ.

dsc-5304.jpg

Ngôi nhà gồm năm gian hai trái, ba gian giữa dành cho việc thờ cúng và tiếp khách, hai gian bên là nơi sinh hoạt. Theo thời gian, một số cấu kiện đã xuống cấp nhưng gia đình không thay mới tùy tiện. Có thời điểm, các phần yếu chỉ được chống đỡ tạm thời để giữ nguyên kết cấu trước khi có phương án tu bổ phù hợp. Năm 2008, công trình được bảo tồn với sự hỗ trợ của Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản, theo nguyên tắc giữ lại tối đa vật liệu và hình thức kiến trúc vốn có.

Ông Hùng cho biết, cứ khoảng 15 năm, gia đình lại phải đảo ngói, loại bỏ những viên vỡ, vệ sinh và sắp xếp lại mái. Đó là công việc không thể trì hoãn nếu muốn ngôi nhà tiếp tục đứng vững, nhưng cũng khó thực hiện như việc sửa một căn nhà thông thường.

Vật liệu phải tương thích, người thợ phải hiểu kỹ thuật cũ, từng thay đổi đều có thể tác động đến giá trị của di tích. Cuộc sống trong nhà cổ vì thế đi kèm với những giới hạn về tiện nghi, cải tạo và mở rộng không gian.

dsc-4980-3171.jpg
duong-lam-4-8398.jpg
z5089511030482-96068d6eabead379bbb6e882bf2c17fd-7904.jpg
Du khách hào hứng trải nghiệm các hoạt động ở Làng cổ Đường Lâm.

Theo lời ông Hùng, mặc dù nhiều bất tiện nhưng khi có người trả giá tiền tỷ để mua lại ngôi nhà, gia đình vẫn từ chối. “Bảo tồn một ngôi nhà cổ không dễ dàng và cuộc sống trong nhà cổ cũng có nhiều việc phải lưu ý. Thế nhưng gia đình tôi xem đây là báu vật cha truyền con nối, không thể đong đếm bằng tiền bạc. Ngôi nhà còn thì con cháu tôi còn được tìm hiểu về lịch sử, cội nguồn”, ông nói.

Nhưng lòng tự hào, dù quan trọng, không thể tự thanh toán các khoản sửa chữa, duy trì nhà cửa và chi phí sinh hoạt. Cách gia đình ông Hùng lựa chọn là đưa giá trị của ngôi nhà vào một vòng tuần hoàn kinh tế nhỏ. Khách đến không dừng ở việc ngắm kiến trúc. Họ nghe kể lịch sử gia đình, xem làm chè lam, dùng bữa với gà Mía, thịt quay đòn (một đặc sản của làng cổ Đường Lâm), cá kho tương và củ cải khô xào. Nhà cổ trở thành nơi ở, điểm tham quan, bếp ăn và không gian truyền nghề.

1.jpg
2.jpg
3.jpg
Hoạt động làm đồ chơi bằng rơm rạ của nghệ nhân làng cổ Đường Lâm. Ảnh: Ngọc Ánh- Trọng Tài

Ở đây, khai thác du lịch không phải hoạt động được ghép thêm vào di sản sau khi hoàn thành việc bảo tồn. Nó là một phần trong cách gia đình duy trì di sản. Khoản thu từ tham quan, trải nghiệm và ẩm thực chưa chắc đủ để bù đắp toàn bộ chi phí bảo dưỡng một công trình gần bốn thế kỷ, nhưng ít nhất tạo ra lý do kinh tế để các thế hệ tiếp tục ở lại, chăm sóc ngôi nhà và kể câu chuyện của nó.

Câu chuyện gia đình ông Hùng gợi ra một vấn đề lớn hơn đối với Đường Lâm: Người dân sẽ sống thế nào bên trong một di tích có quy mô cả làng?

ky-2-tit-xen-2-492.jpg

Cách trung tâm Hà Nội gần 50 km, làng cổ Đường Lâm gồm các thôn Mông Phụ, Đông Sàng, Đoài Giáp, Cam Thịnh và Cam Lâm. Không gian di sản ở đây trải rộng từ đường làng, giếng cổ, hàng cây, tường đá ong, cho đến nhà ở, nhà thờ họ, bếp, sân và cả những tập quán sinh hoạt hằng ngày.

Năm 2006, Đường Lâm trở thành làng cổ đầu tiên trong cả nước được xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia. Năm 2019, nơi đây được công nhận là điểm du lịch cấp thành phố. Hiện làng còn gần 1.000 ngôi nhà mang kiến trúc truyền thống, trong đó hàng chục công trình được xác định có giá trị tiêu biểu.

dsc-5148.jpg
z5089511030482-96068d6eabead379bbb6e882bf2c17fd-7904.jpg
dsc-4851-8921.jpg
duong-lam-5b-8300.jpg
Câu chuyện bảo tồn ngôi làng cổ không chỉ đơn thuần là giữ những nếp nhà cổ.

Việc được xếp hạng tạo cơ sở pháp lý và nguồn lực để bảo vệ một cấu trúc làng Việt hiếm hoi còn tương đối nguyên vẹn. Cổng làng Mông Phụ, đình Mông Phụ, chùa Mía, đền thờ và lăng Ngô Quyền, đền Phùng Hưng cùng hệ thống nhà cổ trở thành những điểm nhận diện quan trọng của xứ Đoài. Song cũng từ đó, mỗi nhu cầu rất bình thường của cư dân như sửa mái, mở rộng nhà, làm công trình phụ hay cải thiện điều kiện sinh hoạt đều phải được đặt trong yêu cầu giữ gìn cảnh quan và cấu trúc kiến trúc.

Đó là nghịch lý phổ biến của một “di sản sống”. Người dân được xem là chủ thể bảo tồn, nhưng cũng là những người trực tiếp gánh chi phí của việc duy trì di sản trong đời sống hằng ngày. Một mái ngói cũ đối với khách tham quan là hình ảnh đẹp; đối với gia đình sống bên dưới, đó còn là nguy cơ dột, mục, mất an toàn. Một bức tường đá ong tạo nên bản sắc của làng, nhưng việc tìm vật liệu đúng loại và thợ có kỹ năng để sửa chữa không phải lúc nào cũng dễ dàng.

Địa phương đang đặt mục tiêu đến năm 2030 đón khoảng 150.000-200.000 lượt khách mỗi năm, đến năm 2035 đạt 250.000-300.000 lượt. Hà Nội cũng xây dựng đề án đầu tư, tôn tạo, bảo tồn và phát huy giá trị làng cổ giai đoạn 2024-2030, định hướng đến năm 2035, hướng tới mục tiêu đưa Đường Lâm trở thành di tích quốc gia đặc biệt.

dsc-5540.jpg

Song song với việc bảo tồn, các không gian sáng tạo như Đoài Creative, Đoài Community, hoạt động trải nghiệm Tết làng Việt, trình diễn nghệ thuật và các sản phẩm gắn với ẩm thực địa phương đang mở thêm cách tiếp cận di sản. Giờ đây, các tour du lịch đến Đường Lâm đã được nối dài thành một chuỗi hoạt động chứ không chỉ bó gọn trong việc tham quan cổng làng, đình, chùa và vài ngôi nhà cổ. Đường Lâm đang thử tạo ra những hoạt động để người dân có thể trực tiếp cung cấp dịch vụ và hưởng lợi từ tài sản văn hóa mà họ gìn giữ.

Thực tế, không phải hộ gia đình nào cũng có một ngôi nhà nổi tiếng, vị trí thuận lợi hay khả năng tổ chức trải nghiệm như gia đình ông Hùng. Khi dòng khách tập trung vào một số điểm quen thuộc, lợi ích từ du lịch rất dễ phân bố không đều. Những hộ chịu ràng buộc bảo tồn nhưng nằm ngoài tuyến tham quan vẫn phải tự lo phần lớn chi phí sửa chữa, trong khi nguồn thu từ di sản không trực tiếp đến với họ.

Một số chuyên gia di sản cho rằng, một vài trường hợp làm du lịch thành công ở Đường Lâm chưa thể thay thế cho cơ chế chung. Để cả làng cổ cùng sống, công tác bảo tồn phải đi xa hơn việc đặt ra giới hạn đối với những gì người dân không được làm. Nó phải giúp họ có đủ khả năng tài chính, kỹ thuật và động lực để lựa chọn ở lại.

1785483086542-7855753644819079796-7855753644819079796-01ff28883178ffe6134d2f9d794128b6.jpg
1785483084596-7855753644819079796-7855753644819079796-f444fa9d288b338ea6f4e457e4dc7d75.jpg
1785483085003-7855753644819079796-7855753644819079796-3644492ba0ad5d56eaaabd6e19e2f13d.jpg
1785483085473-7855753644819079796-7855753644819079796-b28516d98ef1eb9b9b3c4f9015982e38.jpg
ky-2-tit-xen-3-4215.jpg

Ở Bát Tràng, rất khó để phân biệt đâu là không gian sản xuất, đâu là điểm du lịch. Một đoàn khách nước ngoài vừa rời khỏi xưởng gốm sau khi tự tay nặn chiếc cốc đầu tiên, thì ngay bên cạnh, những người thợ lại tất bật chuẩn bị một mẻ hàng xuất khẩu. Trên cùng một con ngõ, có người bán bình gốm, có người mời khách uống trà hoa sói, có người kể chuyện về những dòng họ làm nghề suốt hàng trăm năm.

quynh-ngafgfgfg.jpg
Cửa hàng gốm tại Bát Tràng. Ảnh: Quỳnh Nga

Hiện nay, xã Bát Tràng có khoảng 200 doanh nghiệp, hơn 1.000 hộ sản xuất, kinh doanh gốm sứ và tạo việc làm cho hàng nghìn lao động tại địa phương cùng khu vực lân cận. Mỗi năm, làng nghề đón khoảng 300.000 lượt khách du lịch. Bên cạnh thị trường trong nước, sản phẩm gốm Bát Tràng đã xuất khẩu tới nhiều quốc gia ở châu Á, châu Âu và châu Mỹ. Hơn 50 sản phẩm gốm của địa phương đã được chứng nhận OCOP từ 3 đến 5 sao, góp phần nâng cao giá trị thương hiệu của làng nghề.

Điều đặc biệt là ở Bát Tràng, du lịch không được xây dựng như một ngành kinh tế tách biệt với sản xuất. Ngược lại, chính hoạt động sản xuất trở thành một loại sản phẩm du lịch.

Du khách đến đây không chỉ đi qua những con ngõ nhỏ để ngắm các cửa hàng gốm, mà còn có thể ngồi trước bàn xoay, thử nặn đất, vẽ men, chờ sản phẩm được nung rồi mang về như một thứ đồ souvenir đậm dấu ấn cá nhân.

Chỉ với vài chục nghìn đồng, họ được trải nghiệm một phần công việc vốn thuộc về những người thợ gốm nhiều đời. Giá trị mà họ mua không chỉ là một chiếc cốc hay chiếc bát, mà là cảm giác được tham gia vào quá trình tạo ra sản phẩm.

battrang-13-phung-linh.jpg
battrang-22.jpg
Du khách thích thú tham quan, trải nghiệm tại làng gốm Bát Tràng. Ảnh: Phùng Linh

Nghệ nhân Phạm Thế Anh, người nổi tiếng với việc sáng tạo và phát triển dòng gốm Hồng Sa mang đậm hồn Việt nhận xét, chính du lịch đã giúp sản phẩm Bát Tràng được biết đến rộng rãi hơn, đồng thời tạo động lực để lớp trẻ quay trở lại học nghề.

Được đà đi lên, Bát Tràng những năm gần đây còn mở rộng câu chuyện di sản sang nhiều lớp văn hóa khác.

Đến làng, du khách có thể ghé Nhà cổ Vạn Vân để xem hơn 300 hiện vật gốm từ thế kỷ XV đến XIX; tham quan Bảo tàng gốm; thưởng thức trà hoa sói, chè kho, bánh chưng, hay trải nghiệm "Tri thức nấu cỗ Bát Tràng" - di sản văn hóa phi vật thể quốc gia được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ghi danh năm 2025. Một bữa cỗ với canh măng mực, nem chim câu, su hào xào mực hay chả tôm cuốn lá lốt cũng góp thêm một lát cắt để kể câu chuyện về làng nghề. Qua từng món ăn, du khách hiểu thêm về nếp sống, tập quán và văn hóa của cộng đồng Bát Tràng, chứ không chỉ thưởng thức một bữa cơm địa phương.

PGS.TS Đặng Văn Bài, nguyên Cục trưởng Cục Di sản văn hóa, Phó Chủ tịch Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia cho rằng, giá trị của Bát Tràng không chỉ nằm ở nghề làm gốm. Theo ông, đây còn là một cộng đồng lưu giữ tri thức, truyền thống khoa bảng, văn hóa ứng xử và khát vọng phát triển. Vì vậy, bảo tồn không thể theo cách "đông cứng", mà phải tạo điều kiện để cộng đồng tiếp tục phát triển và nâng cao sinh kế.

Quan điểm ấy hiện đang được cụ thể hóa thông qua Đề án xây dựng Bảo tàng sinh thái làng cổ Bát Tràng (dự kiến vận hành vào năm 2027), một mô hình được Hà Nội kỳ vọng sẽ trở thành hướng phát triển mới cho các làng nghề truyền thống.

Khác với mô hình bảo tàng thông thường, ở bảo tàng sinh thái Bát Tràng, người dân vẫn ở trong ngôi nhà của mình, vẫn làm nghề, vẫn tiếp khách, vẫn nấu ăn, vẫn kể chuyện về làng. Chính cuộc sống thường nhật ấy mới là thứ hiện vật quý giá nhất.

bao-tang-gom-bat-trang-0-1682344162.jpg
Bảo tàng gốm Bát Tràng - công trình kiến trúc độc nhất vô nhị theo dòng lịch sử (Ảnh: sưu tầm)

Họa sĩ Nguyễn Mạnh Đức, cố vấn chuyên môn của dự án, cho rằng việc chỉnh trang Bát Tràng phải bảo đảm sự hòa quyện giữa cái cũ và cái mới, không làm mất đi không gian sản xuất truyền thống. Theo ông, từ đường làng, ngõ xóm đến từng sân nhà đều phải trở thành những mắt xích kể câu chuyện về lịch sử và văn hóa của làng. Mỗi hộ dân có thể trở thành một trạm dừng trong hành trình khám phá, để du khách có thể mở rộng các giác quan, ngoài nghe, nhìn, check-in, còn có thể chạm, nếm và trò chuyện.

Tuy nhiên, thực trạng ô nhiễm môi trường từ hoạt động sản xuất, rác thải sinh hoạt, nguy cơ mất an toàn phòng cháy chữa cháy trong những con ngõ nhỏ, áp lực giao thông và đặc biệt là cơ chế phân chia lợi ích giữa các hộ dân vẫn là những bài toán cần lời giải.

Nhiều người đặt câu hỏi rất thực tế: Ai sẽ được hưởng lợi từ các tuyến du lịch, ai chịu chi phí chỉnh trang, ai vận hành các hoạt động trải nghiệm và nguồn thu sẽ được phân chia ra sao? Điều này cũng có nghĩa bảo tồn không chỉ là vấn đề kiến trúc hay quy hoạch, mà còn là bài toán về quản trị cộng đồng.

ky-2-tit-xen-4-6758.jpg
dsc-5363-photoroomdfdf.png

Quy hoạch tổng thể Thủ đô đặt mục tiêu đến năm 2035, công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 10% GRDP. Mục tiêu ấy khó có thể đạt được nếu di sản vẫn chủ yếu được nhìn nhận như những tài sản cần gìn giữ, thay vì những nguồn lực có thể tạo ra giá trị mới.

Hà Nội hiện có gần 6.000 di tích, khoảng 1.350 làng nghề và làng có nghề, cùng hàng nghìn di sản văn hóa phi vật thể. Quy mô ấy khiến Thủ đô trở thành địa phương sở hữu nguồn tài nguyên văn hóa lớn nhất cả nước. Nhưng nguồn tài nguyên chỉ thực sự tạo ra giá trị khi nó được đặt vào một hệ sinh thái phát triển, nơi bảo tồn, du lịch, công nghiệp sáng tạo, thiết kế, giáo dục và cộng đồng cùng vận hành. Đó cũng chính là điểm khác biệt giữa bảo tồn di sản và phát triển từ di sản.

Trong nhiều năm, thành công của một dự án bảo tồn thường được đo bằng số công trình được tu bổ, số di tích được xếp hạng hay số kinh phí đầu tư. Những con số ấy cần thiết nhưng chưa phản ánh đầy đủ sức sống của di sản. Một ngôi nhà cổ được sửa chữa vẫn có thể đóng kín cửa. Một làng nghề được công nhận vẫn có thể thiếu người nối nghiệp. Một lễ hội được phục dựng vẫn có thể chỉ đông khách trong vài ngày rồi trở lại yên ắng.

battrang-06.jpg
Với lịch sử lâu đời và những nét độc đáo, Bát Tràng đã trở thành biểu tượng của nghề gốm Việt Nam và là một điểm đến du lịch hấp dẫn. Ảnh: Phùng Linh

Theo GS. Đặng Văn Bài, một di sản có bao nhiêu người trẻ tiếp tục làm nghề? Bao nhiêu hộ dân có thêm thu nhập từ giá trị văn hóa? Bao nhiêu sản phẩm mới được tạo ra từ chất liệu truyền thống? Bao nhiêu doanh nghiệp sáng tạo lựa chọn di sản làm nền tảng để phát triển? Những câu hỏi ấy có lẽ quan trọng không kém việc một công trình được bảo tồn theo đúng kỹ thuật hay chưa.

Đó cũng là lý do nhiều chuyên gia cho rằng trọng tâm của chính sách trong giai đoạn tới không nên chỉ là đầu tư cho di tích, mà cần đầu tư cho cộng đồng đang sống cùng di sản.

“Thay vì chỉ hỗ trợ kinh phí tu bổ từng công trình, Hà Nội có thể xây dựng các quỹ bảo tồn cộng đồng, trong đó một phần nguồn thu từ bán vé, từ các hoạt động khai thác du lịch hay dịch vụ văn hóa được quay trở lại hỗ trợ chính những hộ dân đang gìn giữ di sản. Khi người dân nhìn thấy lợi ích lâu dài, họ sẽ chủ động bảo vệ không gian sống của mình thay vì coi các quy định bảo tồn là những ràng buộc.

Cùng với đó là những chính sách khuyến khích doanh nghiệp sáng tạo tham gia vào di sản. Một xưởng thiết kế có thể hợp tác với làng nghề để phát triển sản phẩm mới. Một nhà làm phim có thể biến làng cổ thành bối cảnh điện ảnh. Một nghệ sĩ có thể tổ chức triển lãm trong không gian di tích. Một doanh nghiệp công nghệ có thể số hóa các câu chuyện lịch sử để mở rộng trải nghiệm của du khách. Khi đó, giá trị của di sản không chỉ nằm trong quá khứ mà còn tiếp tục được sáng tạo trong hiện tại”, họa sĩ Nguyễn Mạnh Đức chia sẻ.

Đương nhiên, phát triển luôn đi kèm nguy cơ thương mại hóa. Không ít điểm đến từng đánh mất bản sắc khi hàng quán, biển hiệu hay các dịch vụ na ná nhau dần thay thế đời sống bản địa. Ranh giới giữa phát triển và khai thác quá mức đôi khi nằm ở chính cách kể câu chuyện văn hóa. Một sản phẩm lưu niệm, một quán cà phê hay một tour trải nghiệm sẽ có ý nghĩa khác nếu được xây dựng từ bản sắc địa phương, chứ không chỉ dựa vào sức hút của một địa danh.

ky-2-01.jpg