Hiện tượng phòng vé
Phát hành tại Bắc Mỹ vào ngày 15/5, Obsession trở thành hiện tượng phòng vé khi đạt doanh thu vượt xa mức mong đợi.
Theo Deadline, tác phẩm điện ảnh đầu tay của nhà làm phim YouTube Curry Barker ban đầu được dự đoán chỉ đạt khoảng 8-9 triệu USD trong cuối tuần mở màn (15-17/5). Tuy nhiên, doanh thu thực tế lại gấp đôi con số đó, đạt 17,2 triệu USD.
Phim đứng thứ 3 trong bảng xếp hạng doanh thu phòng vé cuối tuần, chỉ thua Michael (26 triệu USD) và Devil Wears Prada 2 (17,8 triệu USD).
Điều đáng nói ở đây, Obsession có kinh phí sản xuất cực thấp, chỉ khoảng một triệu USD. Để so sánh, số tiền đầu tư cho Michael trong khoảng 155-200 triệu USD, còn Devil Wears Prada 2 là 100 triệu USD.
Chưa kể, đây là tác phẩm độc lập, được cầm trịch bởi đạo diễn trẻ (sinh năm 1999), chưa có kinh nghiệm làm phim điện ảnh trước đó. Chi một triệu USD để sản xuất Obsession được xem là bước nhảy vọt đối với Barker. Milk & Serial, bộ phim đầu tay dài 1 giờ của nam đạo diễn Gen Z phát hành 2 năm trước, cũng chỉ tốn 800 USD.
Dàn diễn viên trong phim, bao gồm cặp đôi chính là Michael Johnston và Inde Navarrette, cũng không quá tiếng tăm.
Bất chấp những hạn chế đó, Obsession thắng lớn tại phòng vé. Tính đến ngày 19/5 (giờ địa phương), phim thu về 23,7 triệu USD từ thị trường Bắc Mỹ, thêm 7,6 triệu USD từ thị trường quốc tế. Tổng doanh thu toàn cầu hiện tại là 31,4 triệu USD.
Điều khiến Obsession “ăn đứt” nhiều bom tấn kinh phí cao là chinh phục được cả giới chuyên môn lẫn khán giả.
Trên Rotten Tomatoes, phim nhận được điểm “cà chua tươi” 95% từ 206 nhà phê bình có uy tín và cũng số điểm đó từ hơn 2.500 đánh giá của khán giả.
Trên CinemaScore, “A-“ là điểm số của khán giả sau khi xem phim. Deadline nhấn mạnh đây là điều hiếm đối với phim kinh dị, bởi thể loại này thường chỉ dao động từ B đến C theo thang điểm của đơn vị khảo sát này.
Trong tuần đầu ra mắt, 59% người ra rạp xem phim là nam giới, trong đó 40% nằm trong độ tuổi từ 25 đến 34.
Sức hút đến từ đâu?
Công bằng mà nói việc Obsession thành công phòng vé không phải không được dự đoán từ trước. Bằng chứng là công ty sản xuất và phân phối điện ảnh Focus Features sẵn sàng chi 14 triệu USD (theo Variety, một số tờ báo khác đưa tin là hơn 15 triệu USD) để mua bản quyền ngay sau khi phim được công chiếu lần đầu tại Liên hoan phim Toronto (TIFF) năm 2025.
Nhiều nhà quan sát gọi đây là một trong những thương vụ TIFF nóng nhất năm 2025. Có vẻ như, vào thời điểm đó, Focus Features đã thấy được tiềm năng vô hạn của Obsession, bất chấp việc phim bị dán nhãn R (tương đương nhãn C18 ở Việt Nam, cấm người dưới 18 tuổi, vì có nhiều cảnh bạo lực đẫm máu, hình ảnh rùng rợn, nội dung tình dục, ngôn ngữ tục tĩu và một vài cảnh khỏa thân trần trụi ngắn), đồng nghĩa với việc giới hạn khán giả ra rạp.
Theo Variety, Obsession mở đầu bằng mô típ quen thuộc của dòng phim kinh dị: “Hãy cẩn thận với điều mình ước”.
Phim xoay quanh Bear Bailey (Michael Johnston) - chàng trai nhút nhát, đem lòng yêu cô bạn thời thơ ấu Nikki Freeman (Inde Navarrette) mà không dám thổ lộ. Trong lúc tuyệt vọng, anh sử dụng một món đồ kỳ lạ mang tên One Wish Willow để ước Nikki yêu mình “hơn bất cứ điều gì trên đời”.
Điều ước nhanh chóng trở thành sự thật nhưng không giống như tưởng tượng của Bear, mà theo hướng méo mó và đáng sợ. Nikki trở nên ám ảnh cực độ với Bear, không thể rời xa anh, vừa cuồng nhiệt vừa mất kiểm soát. Những gì ban đầu giống một giấc mơ tình yêu dần biến thành cơn ác mộng tâm lý, kéo theo hàng loạt hậu quả bạo lực và kinh hoàng.
Ban đầu, phim vận hành như dạng hài lãng mạn méo mó và cực đoan, nắm bắt rất đúng tâm lý lệ thuộc trong các mối quan hệ độc hại thời hiện đại. Sau đó, tình tiết đột ngột rẽ ngoặt sang thể loại phim kinh dị máu me. Điểm mạnh của đạo diễn Barker là xử lý cú chuyển hướng đó mượt mà, thành thạo, khiến người xem thực sự giật bắn bởi những màn hù dọa và giết chóc.
Nhà phê bình Guy Lodge của Variety khen ngợi nhà làm phim trẻ tuổi có sự am hiểu sâu sắc về thể loại phim kinh dị, tư duy sản xuất chi phí thấp đầy khôn ngoan và góc nhìn sắc bén về thế hệ Gen Z.
Ngoài tài năng của người cầm trịch, nữ diễn viên trẻ Inde Navarrette cũng đóng vai trò quan trọng cho sự thành công của phim. Cô được đánh giá lột tả xuất sắc một trong những vai nữ chính phim kinh dị gây ám ảnh nhất thời gian gần đây.
Navarrette có màn trình diễn giàu biểu cảm: lúc là “nàng thơ” với nụ cười hoàn hảo, lúc lại thành “mụ phù thủy” gào thét đầy cuồng loạn, đôi khi lại giống chiếc vỏ hình người trống rỗng, kiệt quệ, bị tước mất ý chí lẫn quyền kiểm soát cơ thể.
Cách Navarrette thể hiện nỗi tuyệt vọng bằng cả cơ thể mang đến cho Obsession sức nặng cảm xúc vượt xa cả dụng ý ban đầu là phản ánh về văn hóa hẹn hò độc hại thời hiện đại. Thay vào đó, diễn biến tâm lý của Nikki giống như cuộc chất vấn đối với lý tưởng nam quyền độc hại trong thời đại nạn phân biệt giới tính vẫn còn tồn tại. Ngoài ra, tình yêu bị ép buộc mà Nikki dành cho Bear được ví von giả tạo và vô nghĩa chẳng khác gì mối quan hệ với chatbot AI.
Do quy mô nhỏ và kinh phí hạn hẹp, phim không có những đại cảnh hay thế giới điện ảnh rộng lớn như các bom tấn kinh dị hiện nay. Phần lớn câu chuyện chỉ xoay quanh vài nhân vật và không gian hạn chế.
Tuy nhiên, Barker biết cách biến hạn chế thành lợi thế. Không gian nhỏ hẹp giúp phim có được cảm giác ngột ngạt và bất an xuyên suốt. Không có những màn thảm sát hoành tráng, đạo diễn Barker bù lại bằng cách tạo hiệu ứng bằng những cú hù dọa đúng lúc và các cảnh máu me đủ gây ám ảnh.
Bộ phim cũng không cố giải thích quá nhiều về món đồ kỳ bí One Wish Willow. Nó hoạt động đơn giản chỉ vì nó hoạt động. Phim chấp nhận điều đó thay vì sa đà vào các lớp thần thoại phức tạp. Chính sự bí ẩn, mơ hồ đó lại khiến câu chuyện trở nên lạnh gáy và khó quên hơn.
Ngoài ra, Obsession còn được khen nhờ phần hình ảnh với tông màu lạnh, u tối và nhạc nền tạo cảm giác nặng nề xuyên suốt.
So với thời còn làm video YouTube ngân sách thấp, Curry Barker cho thấy tay nghề đạo diễn tiến bộ rõ rệt. Tuy nhiên, phim vẫn để lại một vài khoảng trống và chi tiết chưa được giải thích hoàn toàn.