Xung quanh triển lãm Về sau chẳng biết Vân mồng làm sao, nhà văn Trương Quý cho rằng chính hành trình từ hội họa lãng mạn đến đời sống gai góc ấy cho thấy một "cuộc cách mạng" mà Tô Ngọc Vân trước hết thực hiện với chính mình.
Cuộc triển lãm có một không hai
Ngày 10/9, tại Nhà triển lãm Mỹ thuật 16 Ngô Quyền (Hà Nội), triển lãm Về sau chẳng biết Vân mồng làm sao... giới thiệu 141 tác phẩm của danh họa Tô Ngọc Vân, nhân 120 năm ngày sinh của ông và 30 năm ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học, nghệ thuật.
Đây có thể coi là cuộc triển lãm có một không hai trong giới mỹ thuật Việt Nam vì nó chỉ kéo dài đúng 8 tiếng. Ngoài ra, toàn bộ tác phẩm trong triển lãm đều thuộc sở hữu của một nhà sưu tập.
Phần lớn tác phẩm là ký họa, phác họa bằng bút chì, bút sắt, được thực hiện trong giai đoạn 1950-1953 tại nhiều vùng nông thôn và căn cứ kháng chiến như Bản Quỳ, Noong Lưu, Na Làng, Xuân Áng, Minh Châu, Thái Nguyên, Lạng Sơn...
Chúng hé mở cách một họa sĩ hàng đầu của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương thay đổi đối tượng quan sát, môi trường sống và quan niệm nghệ thuật khi bước vào kháng chiến.
Theo nhà văn Trương Quý, một trong những giá trị đặc biệt ở Tô Ngọc Vân là khả năng tiếp nhận trọn vẹn kỹ thuật hội họa hàn lâm phương Tây nhưng không bị hòa tan trong nó. Những kỹ thuật mới được cố họa sĩ sử dụng để biểu đạt đặc tính, tâm hồn và bản sắc con người Việt Nam.
Trước Cách mạng Tháng Tám, công chúng biết đến Tô Ngọc Vân qua những hình ảnh mang vẻ đẹp thanh lịch, lãng mạn, đặc biệt là hình tượng phụ nữ. Những tác phẩm như Thiếu nữ bên hoa huệ, Hai thiếu nữ và em bé trở thành dấu ấn nổi bật trong sự nghiệp của ông.
Đến thời kỳ kháng chiến, thế giới trước mắt họa sĩ thay đổi. Những đối tượng bước vào tranh của ông cũng thay đổi theo. Tranh của ông bắt đầu khắc họa những hình ảnh bình dị: con trâu, con nghé, cụ già đi học bình dân học vụ, cô gái xe sợi, anh bộ đội... Theo cách lý giải của nhà văn Trương Quý, Tô Ngọc Vân đã tự đặt mình vào một đời sống hoàn toàn khác với không gian nghệ thuật mà ông từng quen thuộc.
Anh đánh giá những bức ký họa tại không gian này đã tái hiện trọn vẹn sinh khí, không khí lịch sử kháng chiến. Nó có sự đồng điệu với những bài thơ như Tây Tiến của Quang Dũng.
Cũng nhờ tinh thần tự thân và bản lĩnh đó, Tô Ngọc Vân đã thực hiện một "cuộc cách mạng hội họa", mang lại sự tự tin và đặt nền móng vững chắc cho nền mỹ thuật cách mạng Việt Nam.
Những nét chì đi qua hơn bảy thập kỷ
Có mặt tại triển lãm, kiến trúc sư Tô Ngọc Thạch - con trai út của danh họa - cho biết ông vô cùng bất ngờ trước quy mô bộ sưu tập.
Theo ông Tô Ngọc Thạch, qua những ký họa còn lại có thể thấy Tô Ngọc Vân là người "cực kỳ cần cù" và say mê nghề nghiệp. Gặp một con người, một cảnh vật hay một hình ảnh đáng chú ý trong đời sống, ông có thể ghi lại ngay.
Những bản ký họa nhỏ giống những ghi chép bằng hình ảnh. Đây chính là nguồn nguyên vật liệu mà họa sĩ tích lũy trong quá trình quan sát đời sống trước khi phát triển thành sáng tác lớn.
Tô Ngọc Vân hy sinh năm 1954 khi mới 48 tuổi. Tô Ngọc Thạch khi ấy còn nhỏ. Ông tiếc nuối bởi cha mình ra đi khi tài năng, trí tuệ và cảm xúc nghệ thuật đang ở giai đoạn sung mãn. Bởi vậy, những gì còn được lưu giữ không chỉ là di sản của một danh họa mà còn là phần ký ức ít ỏi của một người cha mà ông không có nhiều thời gian được sống bên cạnh.
Ông cũng cho rằng số tác phẩm xuất hiện tại triển lãm mới chỉ là một phần trong khối lượng sáng tác lớn của Tô Ngọc Vân.
141 tác phẩm lần này thuộc bộ sưu tập của nhà sưu tập Yến Vũ. Ban tổ chức mô tả việc đưa chúng trở lại với công chúng là kết quả của quá trình tìm kiếm, tập hợp và gìn giữ kéo dài.
Họa sĩ Vũ Ngọc Long - Giám đốc Nhà triển lãm Mỹ thuật 16 Ngô Quyền - đánh giá đây là bộ sưu tập đặc biệt quý. Theo ông, giá trị của những tác phẩm loại này không đơn giản nằm ở khả năng tài chính của người mua, bởi ngay cả có tiền cũng chưa chắc có thể tập hợp được một di tập với số lượng như vậy.
Tại lễ khai mạc, ban tổ chức cũng thực hiện nghi thức công bố hai trong số năm tác phẩm độc lập của Tô Ngọc Vân từng được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 1996, giới thiệu tới đông đảo công chúng bao gồm bức bột màu Bừa trên đồi (1953) và bức sơn dầu Xưởng quân giới (1951).