Theo đó, Nghị quyết 27 của Bộ Chính trị nhấn mạnh quan điểm phát triển vùng là phương thức tổ chức tăng trưởng quốc gia, tổ chức lại không gian phát triển, phân bổ nguồn lực và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh mới.
Tổ chức lại không gian phát triển quốc gia thống nhất trên cơ sở xác định rõ vai trò, vị trí, chức năng, lợi thế, bản sắc và sứ mệnh phát triển của từng vùng trong tổng thể phát triển đất nước theo hướng bền vững.
Phát huy liên kết, bổ trợ và lan tỏa giữa các vùng, vùng động lực, cực tăng trưởng, hành lang kinh tế, chuỗi đô thị và các trung tâm kinh tế; khai thác hiệu quả các không gian phát triển mới trong giới hạn sinh thái, phù hợp với khả năng chịu tải của môi trường, khắc phục tư duy cục bộ, phát triển dàn trải, trùng lặp.
Mục tiêu tổng quát, theo nghị quyết, là tái cấu trúc, quản lý và khai thác hiệu quả không gian phát triển vùng đồng bộ với không gian phát triển quốc gia trên cơ sở phát huy tối đa ưu điểm nổi trội, lợi thế cạnh tranh, bản sắc văn hóa của từng vùng và từng địa phương; phát huy vai trò đi đầu, dẫn dắt, lan tỏa của các vùng động lực, hành lang kinh tế, cực tăng trưởng.
Bảo đảm yêu cầu về tự chủ chiến lược, an ninh năng lượng, an ninh lương thực và an ninh nguồn nước; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân; bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; duy trì môi trường hòa bình, ổn định.
Vùng đồng bằng sông Hồng là vùng phát triển nhanh, bền vững, bao trùm
Đến năm 2030, nghị quyết nêu các mục tiêu cụ thể hướng tới của 6 vùng kinh tế - xã hội; trong đó, vùng đồng bằng sông Hồng là vùng phát triển nhanh, bền vững, bao trùm; là vùng động lực của cả nước, có các trung tâm đổi mới sáng tạo, công nghệ cao và kinh tế số quốc gia. Thủ đô Hà Nội trở thành đô thị xanh, thông minh, hiện đại; hội tụ tinh hoa văn hoá, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Vùng Đông Nam Bộ là vùng động lực tăng trưởng lớn nhất cả nước; là trung tâm công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp công nghệ số và logistics quốc tế. TPHCM là đô thị đặc biệt văn minh, hiện đại, trung tâm tài chính quốc tế, cực tăng trưởng của vùng, giữ vai trò đầu tàu, dẫn dắt, lan toả; đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, có vị trí nổi trội ở khu vực Đông Nam Á và phát triển ngang tầm các thành phố lớn trong khu vực châu Á.
Về một số chỉ tiêu chủ yếu, đến năm 2030, tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân của Vùng Trung du và miền núi phía Bắc là 9 – 10%; Vùng đồng bằng sông Hồng 11%; vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên 10%; Vùng Đông Nam Bộ 10 – 11% và vùng đồng bằng sông Cửu Long từ 9 – 9,5%.
Tầm nhìn đến năm 2045, các vùng phát triển và vận hành theo phương thức của kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế dữ liệu, kinh tế tuần hoàn; có kết cấu hạ tầng đồng bộ, thông minh, xanh, an toàn, có khả năng chống chịu cao, kết nối thông suốt; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chính của tăng trưởng và phát triển...
Tập trung nguồn lực phát triển các hạ tầng chiến lược
Trong số các giải pháp, nhiệm vụ trọng tâm, nghị quyết nhấn mạnh tập trung nguồn lực phát triển các hạ tầng chiến lược, hạ tầng số, hạ tầng công nghệ, hạ tầng phục vụ chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng để trở thành động lực then chốt giúp đột phá kinh tế, mở rộng không gian phát triển và khơi thông các nguồn lực.
Các loại hình hạ tầng phải được tổ chức thống nhất theo hành lang kinh tế và không gian phát triển vùng.
Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông hiện đại, đồng bộ, kết nối hiệu quả giữa các ngành, các vùng, giữa địa phương và các trung tâm kinh tế lớn, giữa trong nước và nước ngoài; tăng cường liên thông giữa các phương thức vận tải, giữa giao thông với năng lượng, logistics, đô thị.
Ưu tiên đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông trục xương sống Bắc - Nam và hành lang Đông - Tây thế hệ mới; trong đó trục Bắc - Nam tích hợp đường bộ, đường sắt, hạ tầng năng lượng, cáp quang và logistics, gắn với các đô thị, trung tâm công nghiệp và dịch vụ mới, hành lang Đông - Tây kết nối vùng nội địa với cảng biển, cửa khẩu và mạng lưới logistics khu vực. Tập trung đầu tư phát triển các tuyến đường sắt kết nối với các cảng biển lớn, đường sắt kết nối quốc tế, đường sắt đô thị, đường sắt vùng, nhất là đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam.
Phát triển giao thông đường thủy thành phương thức vận tải chủ yếu cho một số vùng, tối ưu hoá chuỗi logistics. Tạo điều kiện thuận lợi để phát triển vận tải đa phương thức, nâng cao năng lực logistics, giảm chi phí vận tải, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Xử lý các điểm nghẽn về hạ tầng đô thị, hạ tầng xã hội; nâng cao năng lực hạ tầng thích ứng với biến đổi khí hậu và quản lý nguồn nước...
Xây dựng cơ chế khơi thông, kích hoạt các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển, trong đó ưu tiên các hình thức đầu tư tư nhân, hợp tác công tư (PPP). Tập trung nguồn lực hoàn thành các công trình, dự án hạ tầng trọng điểm liên vùng, lan tỏa; hạ tầng kết nối các khu kinh tế biển, các khu kinh tế cửa khẩu.
Nghị quyết cũng nêu việc phát triển hệ thống đô thị hiện đại và các cực tăng trưởng của vùng. Trong đó, ưu tiên phát triển hai cực tăng trưởng lớn nhất đất nước là vùng đô thị Hà Nội và vùng đô thị TPHCM; có cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển một số địa phương trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, đóng vai trò là các cực tăng trưởng của vùng, kết nối nội vùng, liên vùng, khu vực và quốc tế.
Phấn đấu đến năm 2045, xây dựng được ít nhất 5 đô thị đạt tầm cỡ quốc tế, giữ vai trò là đầu mối kết nối và phát triển với mạng lưới khu vực và quốc tế.