Người đàn bà đứng sau học giả Nguyễn Văn Vĩnh

Người đàn bà đứng sau học giả Nguyễn Văn Vĩnh
TP - Tân Nam tử Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) chủ bút báo Đăng Cổ tùng báo có ba bà vợ với 15 người con. Nhưng gắn bó với ông suốt 36 năm, chịu đựng biết bao khốn khó, chia sẻ với ông những niềm vui và tủi cực… chỉ có bà. Sách vở viết về ông rất nhiều, nhưng hầu như không có mấy dòng viết về bà.

> Khắc họa chân dung Nguyễn Văn Vĩnh (1882 – 1936)

Học giả Nguyễn Văn Vĩnh
Học giả Nguyễn Văn Vĩnh.

Ông như con ngựa (tuổi Nhâm Ngọ), phi trên thảo nguyên, tung hoành, ngang dọc. Còn bà giữ bếp lửa trong chiếc lều phía sau…

Bà Đinh Thị Tính, quê quán làng Phượng Dực, Phú Xuyên, (nay thuộc Hà Nội) là người vợ tao khang, tấm cám của học giả Nguyễn Văn Vĩnh. Lớn hơn chồng một tuổi, bà tuổi Tân Tỵ. Tử vi phán: nữ mạng Tân tỵ cuộc đời tân toan âu lo, không được sung túc vào trung vận. Tình duyên buồn bực, lao đao.

Tử vi cũng báo hậu vận an nhàn, hợp duyên với Nhâm Ngọ… Chẳng biết hư thực ra sao, nhưng lớn lên, năm 1900, vào tuổi 19, bà lấy chồng.

Chồng bà làm thông phán. Cưới xong, hai vợ chồng về Hải Phòng sinh sống. Một căn nhà nhỏ gọn ghẽ ở phố Cầu Đất là tổ ấm của cặp vợ chồng công chức.

Năm 1901 sinh con trai đầu lòng, đặt tên là Hải. Mấy năm sau, Nguyễn Văn Vĩnh chuyển về tòa công sứ Bắc Giang, bà lại đi theo. Tại đây, năm 1904 lại thêm con trai thứ hai, đặt tên Nguyễn Giang để kỷ niệm nơi lấy giấy khai sinh.

Chồng bà là người thông minh, siêng năng công việc, rất có thiện cảm với thượng cấp, được sủng ái. Nên khi Công sứ Bắc Giang Hauser được bổ nhiệm làm Đốc lý Hà Nội, ông đã đưa cả vợ chồng bà Vĩnh về Hà Nội.

Sau nhiều năm tần tảo, dành dụm từ Hải Phòng, Bắc Giang được ít tiền, bà Vĩnh đã mua được một ngôi nhà nhỏ ở số nhà 39 phố Mã Mây. Nhà có hai tầng, bên dưới dùng làm nơi sinh hoạt cho gia đình. Tầng trên là phòng làm việc ông Vĩnh. Một gian gác nhỏ để tiếp khách

Ngôi nhà phố Mã Mây đã gắn bó với ông bà Vĩnh 15 năm, kể từ khi ông được theo Công sứ Bắc Giang về Hà Nội. Cũng ngôi nhà này, đã chứng kiến bao nhiêu niềm vui, mỗi khi bà Vĩnh khai hoa. Và theo lẽ tự nhiên vốn có tạo hoá ban phát cho con người, những người con của ông bà nối tiếp nhau ra đời:

Nguyễn Thị Loan, sinh năm 1907

Nguyễn Thị Nội , sinh năm 1910

Nguyễn Thị Vân, sinh năm 1913

Nguyễn Dương , sinh năm 1914

Nguyễn Phổ, sinh 1917

Nguyễn Kỳ, sinh 1918

Nguyễn Thị Mười, 1919

Nguyễn Dực, 1921

Nguyễn Hồ, sinh 1923.

Ông bà Vĩnh và các con
Ông bà Vĩnh và các con.

Những người con của bà, đều là nam thanh nữ tú. Trong đó Nguyễn Thị Vân xinh đẹp có năng khiếu âm nhạc, chơi dương cầm tài năng, đến nỗi có lần người Pháp đánh tiếng mai mối cho Vĩnh Thụy (tức Bảo Đại sau này).

Nguyễn Giang vừa là nhà thơ, vừa là họa sĩ, điêu khắc, có tên tuổi trong cuốn Thi nhân Việt Nam. Nguyễn Dực, có công lắp đặt hệ thống âm thanh cho Lễ tuyên ngôn Độc lập 2-9-1945 tại Ba Đình, rồi thành một trong những người mở đầu ngành phát thanh đất nước. Đặc biệt Nguyễn Phổ từng làm công tác tình báo, từng chịu đa truân…

Trọn 36 năm làm vợ của một công chức, rồi làm chủ những tờ báo, bà Vĩnh đã trải qua những niềm vui hãnh diện, tự hào. Nhưng thật trớ trêu, cuộc đời mang đến cho bà những khổ đau, vò xé và có những khi không tài nào đứng dậy được. Bà phụng thờ nhà chồng, trọn đạo làm vợ, làm mẹ.

Hơn hai chục năm, sinh nở 12 bận, nuôi con mình, con chồng, lần lượt tất cả hơn chục đứa, đứng mũi chịu sào, chèo chống, nuốt nhịn những nỗi cay đắng âm thầm. Ấy là hai lần ông Vĩnh lấy thêm vợ bé. Mà những người đến sau, đều tài năng trẻ đẹp hơn hẳn mình.

Ba trong bốn tố nữ của bà Vĩnh
Ba trong bốn tố nữ của bà Vĩnh.

Bà vẫn tìm được cách để sống chung, để không làm lỡ sự nghiệp của chồng. Ngần ấy năm, bà lẽo đẽo theo chồng đồng cam cộng khổ. Lúc ra Hải Phòng buôn bán, khi lên Bắc Giang heo hút gió rừng. Tất cả là vì chồng, vì sự nghiệp của ông mà bà đứng đằng sau làm hậu thuẫn.

Năm ông Vĩnh mất, bà vào tuổi 55, chẳng còn trẻ nhưng cũng chưa thể già. Lại một mình đưa con thuyền đi lên phía trước, khi bánh lái đã gãy!

Rồi cái đận, ông Vĩnh và các con Nguyễn Thị Nội, Nguyễn Thị Vân, Nguyễn Ngược Pháp (tức nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp, con riêng của chồng), Nguyễn Thị Loan nối tiếp nhau bỏ bà tìm về nơi vĩnh viễn, bà tan nát cõi lòng.

Trọn 10 năm (1932-1942), bà Vĩnh 5 lần chít khăn tang, một lần tang chồng, bốn lần tang con. Những vành khăn trắng buốt lạnh cứ chồng đè lên nhau, quặn thắt trên đầu người đàn bà khổ hạnh.

Kinh hoàng nhất là những ngày tháng năm 1936. Đúng là họa vô đơn chí. Đám tang ông Vĩnh ngày 8-5, thì chỉ 4 tháng sau, (tháng 9 năm 1936), giữa lúc mồ chưa xanh cỏ, đất chưa khép liền… thì người mua được số tài sản phát mại, đòi quyền sử dụng đất và ép gia đình bà phải chuyển ngay mộ đi, trả lại khuôn đất.

Đã đến lúc sa cơ thất thế, chẳng còn đường nào khác. Con cháu đành phải đào mộ lên để chuyển về quê. Mỗi nhát cuốc bập xuống mồ, như mũi dao khía vào trái tim bà.

Nhìn những bàn tay nhợt nhạt, run rẩy chuyển thi hài ông từ chiếc quan tài bằng kẽm, sang chiếc quan tài gỗ, bà như đứt từng khúc ruột, bởi như thế có khác chi ông Vĩnh bị chết hai lần?

Đất làng Phượng Dực thuộc vùng chiêm trũng. Ngôi mộ lúc mới hung táng, còn nằm trên mảnh đất khô khan. Mùa mưa úng lụt đã biến thành cái hồ mênh mông nước. Ông Vĩnh nằm chìm trong dòng nước của quê mình. Những ngày ấy, bạn hữu, gia đình có muốn thắp cho ông nén hương, cũng đành đứng từ xa bái vọng.

Câu ca “Sống ngâm da, chết ngâm xương” chỉ những vùng chiêm trũng, bây giờ vận vào ông… Hình ảnh ấy bà Vĩnh còn chôn chặt trong lòng….

Bà cũng chưa thể cắt nghĩa tại sao cuộc đời ông lại rất gần với nước? Ngày đầu tiên mua ngôi nhà Mã Mây, rất gần sóng nước sông Hồng. Lần chuyển đến ở số 25 Nguyễn Gia Thiều, thì lưng nhà quay về hồ Thiền Quang ngày đêm thì thầm tiếng sóng. Rồi chuyển đến nhà 13-15 Thụy Khuê, hướng bốn mùa sóng nước Tây Hồ. Cho đến lúc ông chết, là chết trên sông, chứ không phải một cái túp lều nào trên đất.

Cuối cùng khi về với cố hương, ông Vĩnh vẫn cứ chìm trong nước. Hóa ra số ông sống chết với nước?

Những tưởng đến ngày hòa bình, là yên hàn, gia đình được đoàn tụ. Ai ngờ hoàn cảnh thận phận mỗi người lại tạo nên cảnh chia lìa. Nguyễn Dương, Nguyễn Hải và mẹ con bà ba Suzanne và Nguyễn Hiến vào Nam, Nguyễn Phùng thì ở Pháp, kẻ đông người tây, tan đàn xẻ nghé.

Rồi 2 cú sét quất xuống gia đình năm 1955 cải cách ruộng đất: Nguyễn Dực con trai bà bị bắt suýt nữa bị tử hình, may được cứu thoát. Còn Nguyễn Phổ thì bị đi tù, với lời thị phi làm gián điệp nằm vùng phá hoại miền Bắc… Bà Vĩnh đã vào tuổi 74 xưa nay hiếm.

Bấy giờ ngoài Bắc chỉ có 4 người: Nguyễn Giang đã về nước, sống bằng vẽ tranh, Nguyễn Kỳ 37 tuổi, Nguyễn Thị Mười 36 tuổi, Nguyễn Hồ 32… mỗi người có thân phận riêng. Họ sống co mình lại. Bà Vĩnh như con chim sợ cây cong, lúc nào cũng thon thót giật mình.

Khốn khổ nhất là cái lần con trai Nguyễn Phổ bị đi tù, liên can đến vụ cháy nhà máy in Tiến Bộ năm 1955 (mà sau 23 năm, Nguyễn Phổ mới được giải oan, được trả lại quyền lợi, được phân nhà và tặng thưởng Huân chương kháng chiến).

Ngôi nhà số 25 Nguyễn Gia Thiều bị tịch thu, bà phải về ở nhà con trai Nguyễn Giang số 59 - Trần Quốc Toản. Sống chung với vợ chồng con trai được vừa 8 năm (1955-1963), thì tự nhiên nhà chức trách yêu cầu thu lại, vì ngôi nhà không đủ cơ sở pháp lý. Cũng may họ đổi cho hai căn hộ khác.

Một là căn hộ rộng 24m2 ở số 34 phố Lê Đại Hành, và một nhà khác ở 119 phố Triệu Việt Vương, có 2 buồng, rộng 36m2. Bà cụ già goá bụa, lúc ấy 82 tuổi, không thể sống một mình ở căn nhà 24m2, càng không thể về sống chung với vợ chồng Nguyễn Giang, bởi quá chật chội. Các con trai bà lại bàn nhau đưa mẹ về nhà Nguyễn Dực ở 43 Hàng Bài.

Khổ thay, ngôi nhà này lại là của bố vợ Nguyễn Dực cho con gái và con rể ở nhờ!

Năm 1964. Tiếng máy bay Mỹ bắt đầu gầm rú ở Vịnh Hạ Long, dư âm của một cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc của Đế quốc Mỹ phát động, đang đến gần. Đâu đó người ta rục rịch bàn nhau câu chuyện sắp đi sơ tán.

Trong bối cảnh ấy, người vợ cả của học giả Nguyễn Văn Vĩnh, đành phải chia tay các con cháu, bỏ lại phía sau đất Hà thành, từng gắn bó bao nhiêu kỷ niệm, cả niềm vui và cay đắng, cả thiên đường và địa ngục, trở về quê chồng Phượng Dực (Hà Đông cũ) sinh sống, thoát khỏi những ánh mắt nhìn ghẻ lạnh của người đời.

Bà về đây sống với người con nuôi của chú ruột chồng, tên là Nguyễn Văn Vần. Đây là đất hương hoả từ đời các cụ để lại. Ông Vần đã giữ gìn, để bây giờ bà quả phụ học giả Nguyễn Văn Vĩnh mới có chốn nương thân.

Bà Vĩnh sống âm thầm như thế, đến năm 1965 thì qua đời, hưởng thọ 84 tuổi, không dám nghĩ tới ngày gặp lại người con bị oan sai mà tù tội. Bà Vĩnh cũng chẳng ngờ rằng, người con dâu của bà (vợ Nguyễn Phổ) phải vào tận miền nam sinh sống, rồi đến tuổi 62 còn xuống tóc tu ở tịnh xá Tòng Lâm, Sài Gòn, với pháp danh Trí Tuệ, tới chức Tỳ kheo.

Lúc còn sống bà từng chịu quá nhiều đàm tiếu. Người ta đồn thổi rằng Nguyễn Văn Vĩnh không làm tay sai cho Tây, làm sao có nhiều tiền tài, sản nghiệp lớn đến vậy? Ý nói ngôi nhà số 13-15 Thụy Khuê bên cạnh hồ Tây…

Thực ra ông Schneider, một công chức Pháp, từng công tác với Nguyễn Văn Vĩnh về làm báo. Sau 38 năm làm việc ở Việt Nam, năm 1918 ông đến tuổi về hưu. Vì cảm phục, yêu mến Nguyễn Văn Vĩnh, mà trước khi về Pháp, Schneider đã nhượng lại cho ông Vĩnh toàn bộ nhà in, cơ sở thiết bị và hai tờ báo (Trung Bắc tân văn và Học báo - tức Đông Dương tạp chí đã bị Toàn quyền Sarraut đóng cửa). Ông trở thành chủ nhà in, chủ nhiệm hai tờ báo nói trên.

Nhờ có vốn, ông Vĩnh tậu ngôi nhà 13 và 15 ở Thụy Khuê, hướng gió mát Tây hồ để cho vợ con sinh sống. Nhưng đến năm 1935 thì bị ngân hàng phát mại, hóa giá.

Bãi bể nương dâu, thời vận xoay vòng, cuối cùng nhà của ông chủ báo Đăng Cổ tùng báo, Đông Dương tạp chí… sau nay vẫn được chọn làm Tòa soạn một tờ báo ngành của nước ta.

Cùng chuyên mục

Anh Lưu Quang Hà bên sản phẩm bê tông nghệ thuật của Công ty

'Chúa chổm' xứ Tuyên đúc nên cơ nghiệp

TP - Lưu Quang Hà vừa rời giảng đường đại học, bước chân khởi nghiệp liền bị quỵt tiền, phải vay nặng lãi để sống. Ở nhà, bố mắc ung thư phổi, gia đình khánh kiệt, khiến anh Hà nhiều đêm bật khóc. Nhưng rồi, anh đứng dậy, gây dựng công ty chuyên làm sản phẩm bê tông nghệ thuật – ngành nghề mà anh được học, doanh thu tiền tỷ, tạo việc làm cho gần 20 lao động. Anh còn là Bí thư Chi đoàn ở tổ dân phố.

Công an cơ sở tuyên truyền, vận động người dân xóa bỏ hủ tục nghi kỵ “cầm đồ thuốc độc” Ảnh: NN

'Bóng ma đồ độc' ám ảnh vùng cao Quảng Ngãi

TP - Ở một số bản làng miền núi Quảng Ngãi, hủ tục nghi kỵ “cầm đồ thuốc độc” vẫn âm ỉ tồn tại, len vào những mâu thuẫn đời thường, những cơn bệnh chưa được lý giải bằng khoa học. Từ một lời phán của thầy cúng, hàng xóm có thể thành kẻ thù, người vô tội bị cô lập, đánh đập, thậm chí mất mạng.

Cán bộ Trạm Y tế xã Buôn Đôn đi bộ đến từng hộ dân tại buôn Đrăng Phốk để tiêm vắc xin cho trẻ

'Cõng' vắc xin tìm trẻ giữa đại ngàn

TP - Không để người dân vất vả đưa con đến trạm y tế, vào ngày 16 hằng tháng, cán bộ y tế xã vùng xa tỉnh Đắk Lắk vượt hơn 20km đường rừng đều đặn mang vắc xin vào tận buôn. Chuyến đi của họ đã mang thêm một lớp bảo vệ đến với những đứa trẻ nơi vùng lõi rừng, từng ngày rút ngắn giữa dịch vụ y tế và người dân.

Giếng cổ được người dân tự hào giới thiệu với khách đến thăm đảo

Bí ẩn giếng cổ ở xã đảo Đà Nẵng

TP - Giữa vùng biển đảo quanh năm nắng gió, nơi từng giọt nước ngọt quý hơn vàng, hai giếng cổ dưới chân núi Bàn Than ở Tam Hải vẫn trong veo, mát lành qua hàng trăm năm.

Cựu chiến binh Nguyễn Duy Kháng và cô giáo HươngẢnh: Lê Văn Chương

Những người lính ở lại núi Dàng-Bài cuối: Trái tim cô giáo trẻ dành trọn tiếng "tít te"

TP - Tháng 2/1970, bên dòng sông Vệ (Hành Thịnh, Quảng Ngãi), những chiếc HU-1A còn gọi là tàu rọ liên tục quần đảo, gầm rít trên bầu trời. Giữa khói lửa chiến tranh, trái tim một cô giáo trẻ lại bị cuốn vào âm thanh “tít te” không ngừng của một cậu lính thông tin quê Thái Bình. “Cái này bí mật, không thể giải thích” – chàng lính Nguyễn Duy Kháng mỉm cười nói với cô giáo Nguyễn Thị Thanh Hương về công việc của mình.

Cựu chiến binh Lại Vũ Yên và bà Nguyễn Thị Bè, mối tình và đám cưới trong chiến tranh, giờ đây đã hơn 50 năm Ảnh: Lê Văn Chương

Những người lính ở lại núi Dàng-Bài 2: Mối tình người lính quân y và nữ du kích

TP - Trước năm 1975, địch xem xã Hành Thịnh là một trong những cái gai rất khó nhổ. Bởi đây là một xã đồng bằng của Quảng Ngãi nhưng lại có rất nhiều ngọn núi: núi Dàng, núi Đuôi Chuột, núi Rố, núi Gò Đồn, núi và rừng Ông Đương, gò Rú. Địa thế hiểm trở vốn là lợi thế của quân giải phóng và là vùng đất chết đối với quân đội chính quyền Sài Gòn. Y sĩ Lại Vũ Yên đã trải qua những ngày gian nan tại đây, sau đó kết hôn với cô du kích…

 Ông Trương Minh Hải, Tổ trưởng Tổ cộng đồng bảo vệ nguồn lợi thủy sản phường Hồng Ngự chăm sóc đàn cá tự nhiên Ảnh: Hoà Hội

'Ngôi nhà' của đàn cá trên sông Tiền

TP - Xuất phát từ ý tưởng giữ cá lại với dòng sông, người dân vùng đầu nguồn Hồng Ngự (Đồng Tháp) đã biến đoạn bờ kè bình dị thành “bến đỗ an toàn” của đàn cá hàng nghìn con. Cá được cho ăn, bảo vệ và sinh trưởng tự nhiên. Mô hình độc đáo này không chỉ góp phần bảo vệ nguồn lợi thủy sản mà còn đánh thức tình yêu thiên nhiên trong cộng đồng.

Chiến dịch 500 ngày đêm đang được tổ chức tại nghĩa trang liệt sĩ Hành Thịnh, xã Đình Cương. Trong số các liệt sĩ nằm lại, có nhiều người là đồng đội của vợ chồng ông Tân Ảnh: Lê Văn Chương

Những người lính ở lại núi Dàng: Mối tình lính DKB và cô y tá

TP - Cách đây hơn nửa thế kỷ, khi đất nước hòa bình, hầu hết những người lính gác lại súng gươm để trở về với quê nhà, mang theo ký ức của một thời hoa lửa. Thế nhưng, tại xã Hành Thịnh (nay là xã Đình Cương) nằm dưới chân núi Dàng- vùng căn cứ cách mạng của Quảng Ngãi, vẫn có những người lính ở lại. Đầu tháng 9 này, họ đang lặng lẽ dõi theo từng nhát cuốc của Đội tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ đang thực hiện Chiến dịch 500 ngày đêm.

Phiên chợ Sâm Ngọc Linh và dược liệu được tổ chức đều đặn mỗi tháng ở phố du lịch sầm uất của Đà Nẵng Ảnh: Giang Thanh

Quà quê kể chuyện Đà Nẵng

TP - Một tấm chiếu cói kể chuyện làng nghề, chai tinh dầu kể chuyện vùng dược liệu hay món đặc sản kể chuyện miền quê. Khi những món “quà quê” được đặt trong không gian trải nghiệm du lịch, câu chuyện về Đà Nẵng có cơ hội chạm vào du khách và theo họ đi xa hơn.

Gom rác đổi cháo sáng

Gom rác đổi cháo sáng

TPO - Từ những chai nhựa, vỏ lon, giấy vụn được gom lại từ mỗi gia đình, người dân xã Nghĩa Giang (tỉnh Quảng Ngãi) có thể đổi lấy cháo nóng. Những thứ từng bị xem là rác bỏ đi đang được biến thành nguồn quỹ để sẻ chia với người khó khăn.

Khát vọng hồi sinh nghề xưa của người trẻ Quảng Ngãi

Khát vọng hồi sinh nghề xưa của người trẻ Quảng Ngãi

TP - Từ những luống dâu ven sông Trà Khúc đến lò mật mía đỏ lửa, nhiều người trẻ ở Quảng Ngãi đang tìm cách đưa nghề truyền thống trở lại đời sống bằng tư duy mới. Không chỉ giữ nghề của cha ông, họ còn từng bước biến những giá trị văn hóa thành sản phẩm hàng hóa, tạo sinh kế và mở ra hướng phát triển mới cho quê hương.

Cồn Thanh Long trước lựa chọn nghiệt ngã: Giữ cồn hay đưa dân vào bờ?

Cồn Thanh Long trước lựa chọn nghiệt ngã: Giữ cồn hay đưa dân vào bờ?

TPO - Từ câu chuyện chực chờ bị ‘xóa sổ’ của cồn Thanh Long ở Vĩnh Long do sạt lở đã ngoài tầm kiểm soát, cho thấy giải pháp chống sạt lở cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long đang trở nên cấp bách, tốn kém. Đặc biệt, việc giảm khai thác cát sông đang ngày càng cần thiết để giảm sạt lở, xâm thực đất đai trù phú của vùng đồng bằng này.

Concert Thanh xuân thu hút khoảng 2 vạn bạn trẻ Ảnh: Như Ý

Chạm vào kí ức

TP - Vệt nắng chiều lóa trên những huân chương của cha nơi bức tường cũ, bừng lên trong tôi màu bất diệt của thanh xuân - sự tận hiến mãi mãi tuổi đôi mươi mà thời gian là kẻ đứng rìa. Và đêm nay, giữa sóng cuộn của tuổi trẻ, một lần nữa tôi cúi đầu tri ân. Đó là giai điệu giao hòa mang tên tình yêu Tổ quốc trong đêm Thanh xuân…

Mùa sạt lở bên dòng Cửa Lớn

Mùa sạt lở bên dòng Cửa Lớn

TPO - Mỗi mùa mưa, lũ về, những hộ dân sống ven sông Cửa Lớn, đoạn qua xã Đất Mới, tỉnh Cà Mau lại phải sống thấp thỏm với sạt lở. Có căn nhà bị “hà bá” nuốt trọn chỉ trong một đêm, có con đường bị dòng nước ngoạm mất, người dân phải tự tháo dỡ nhà, dựng cầu tạm để có lối đi.

Huyền thoại võ sáo dưới bóng trăng Phồn Xương

Huyền thoại võ sáo dưới bóng trăng Phồn Xương

TP - Dưới bóng trăng Phồn Xương, tiếng sáo sắt “Thiết địch thần phong” từng gắn với những năm tháng khởi nghĩa Yên Thế (tỉnh Bắc Ninh), nay đang được đánh thức, đưa võ sáo từ ký ức lịch sử trở thành di sản phát triển du lịch.