Vốn ngoại trở lại ngân hàng
Ngày 26/8, theo nguồn tin từ Reuters, BNP Paribas của Pháp và KB Kookmin Bank của Hàn Quốc đang tiến hành các cuộc đàm phán riêng rẽ để mua ít nhất 15% cổ phần Techcombank với tư cách nhà đầu tư chiến lược. Các bên quan tâm đang cân nhắc nhiều phương án, trong đó có khả năng mua lại cổ phần từ các nhà đầu tư nước ngoài hiện hữu.
Nhiều ngân hàng được mở rộng room ngoại khi nhận chuyển giao ngân hàng bắt buộc. Theo đó, tỷ lệ sở hữu nước ngoài tối đa tại VPBank có thể được nâng lên tối đa 49%. Đây là điều kiện thuận lợi hơn để ngân hàng triển khai phương án phát hành riêng lẻ cho nhà đầu tư nước ngoài, mở rộng không gian cho các hoạt động huy động vốn trong tương lai. Kế hoạch tăng vốn của VPBank vì vậy được đặt trong một bài toán dài hạn, thay vì chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu vốn trong ngắn hạn.
Tại buổi gặp gỡ nhà đầu tư quý II vừa qua, bà Lưu Thị Thảo - Phó Tổng Giám đốc thường trực và Giám đốc Điều hành cao cấp VPBank - cho biết, việc duy trì bộ đệm vốn vững chắc là yêu cầu cần thiết khi ngân hàng theo đuổi tốc độ tăng trưởng tín dụng cao. Dù hệ số an toàn vốn hiện vẫn thuộc nhóm dẫn đầu thị trường, việc chủ động bổ sung vốn sẽ tạo dư địa cho tăng trưởng trong các năm tới.
Một trường hợp khác là HDBank. Tại Đại hội Đồng cổ đông thường niên 2026, ngân hàng công bố định hướng tăng cường hợp tác quốc tế và vừa công bố kế hoạch phát hành riêng lẻ tối đa 700 triệu cổ phiếu cho các nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp trong và ngoài nước. Bên cạnh đó, tại Đại hội đồng cổ đông năm nay, OCB cũng hé lộ kế hoạch tìm kiếm nhà đầu tư nước ngoài thông qua bán cổ phần hoặc phát hành trái phiếu chuyển đổi.
Nhu cầu huy động từ bên ngoài rất lớn
Theo Vụ Tín dụng các ngành kinh tế - Ngân hàng Nhà nước, mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số trong giai đoạn 2026-2030 đặt ra nhu cầu vốn rất lớn. Tổng nhu cầu vốn cho giai đoạn này ước tính khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, cao gấp khoảng hai lần giai đoạn 2021-2025. Trong đó, tín dụng ngân hàng tiếp tục giữ vai trò là một trong những kênh dẫn vốn chủ lực của nền kinh tế.
Trao đổi với PV Tiền Phong, ông Nguyễn Văn Lộc - Giám đốc Chương trình Đào tạo Kinh doanh thương mại Đại học Phenikaa - phân tích, dòng vốn quốc tế vào hệ thống ngân hàng cũng có ý nghĩa rộng hơn một thương vụ đầu tư đơn lẻ. Nguồn vốn ngoại có thể góp phần đa dạng hóa cấu trúc nguồn vốn, bổ sung nguồn lực cho những lĩnh vực cần lượng vốn lớn như hạ tầng, chuyển đổi xanh và các dự án dài hạn.
"Giá trị của vốn ngoại không chỉ nằm ở mức lãi suất. Khi tính cả lãi suất USD, chi phí phòng ngừa rủi ro tỷ giá và các khoản phí thu xếp, chi phí vốn quốc tế trong một số trường hợp có thể lên tới 8-9%/năm. Do đó, lợi thế lớn hơn nằm ở quy mô, kỳ hạn và khả năng đa dạng hóa nguồn vốn", ông Lộc nói.
Theo ông Lộc, với ngân hàng, việc sở hữu thêm các nguồn vốn trung và dài hạn có thể giúp giảm áp lực phụ thuộc vào tiền gửi ngắn hạn trong nước, đồng thời cải thiện khả năng tài trợ cho những dự án có thời gian thu hồi vốn dài. Tuy nhiên, “sóng vốn ngoại” cũng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với các ngân hàng trong việc minh bạch thông tin, nâng chuẩn quản trị và chứng minh hiệu quả hoạt động...