Theo dấu nhật ký Đặng Thùy Trâm: Bám thắt lưng địch

TP - Trạm xá Bác Mười nằm ở một nơi bí mật trong rừng núi, tuy nhiên tính theo đường chim bay thì lại sát nách một căn cứ quân sự khổng lồ của Mỹ. Từ ngày 1/4/1967, Mỹ đã thiết lập tại huyện Đức Phổ một sân bay quân sự, trận địa pháo binh, xây dựng các đồn bốt để tăng cường cho các tuyến và bảo vệ điểm giao thông thắt nút. Trên bản đồ quân sự, các địa danh này được ghi là LZ Liz, Bronco, Montezuma và núi Dàng.

Cán gáo, tàu rọ

Trước năm 1975, giao liên trên rừng núi Quảng Ngãi rất nhiều người từng rơi vào cảnh “bị tàu rọ, cán gáo nó quần”. Đây là cách nói dân dã của quân giải phóng để mô tả chiếc trực thăng OH-6 Cayuse trông giống như quả trứng khủng long, gắn đại liên gatling 6 nòng, mỗi lần khạc đạn thì cả ngàn viên phụt ra, xăm nát mặt đất.

4-bai-2-cac-doan-vien-thanh-nien-vieng-noi-bac-si-dang-thuy-tram-hy-sinh-anh-le-van-chuong.jpg
Viếng nơi bác sĩ Đặng Thùy Trâm hy sinh. Ảnh: Lê Văn Chương

Bác sĩ Đặng Thùy Trâm kể lại trong trang nhật ký ngày 20/5/1969. “Suýt chết một lần nữa. Sáng nay mấy chiếc HU-1A và một chiếc tàu rọ quần sát dưới hố sâu. Ngồi quan sát mức độ rà kiếm của nó mình thấy hết sức lo. Quả nhiên sau một vòng quần quần sát ngọn cây chúng đã phát hiện được một phòng thương binh ở. Tiếng lựu đạn nổ chát tai, lửa lóe sáng rực và khói trùm toàn bộ lên nhà”.

Bác sĩ Huỳnh Thanh Phương, nguyên Giám đốc Trung tâm Y tế huyện Đức Phổ, kể lại rằng ngày ấy đơn vị của ông không rút vô rừng mà bám trụ ngay trên lưng núi Dàng, đảng viên luôn nêu gương, đi trước, chấp nhận khó khăn cho quần chúng noi theo.

Từ lưng núi nhìn lên là một lô cốt của địch luôn lập lòe những ánh sáng ma quái về đêm. Cũng từ độ cao này, du kích có thể đếm được bao nhiêu chiếc máy bay cất cánh, bao nhiêu chiếc đi oanh tạc trên rừng núi trở về. Tên các loại máy bay được du kích gọi bằng những cái tên thuần chất nông dân: “Thằng 2 thân (Chinook), thằng tàu rọ (OH-6 Cayuse), thằng cán gáo (UH-1A)...”.

Từ năm 1965, quân giải phóng đã có chiến thuật “bám thắt lưng địch mà đánh”, có nghĩa là càng áp sát lính Mỹ thì càng ít thương vong. Bởi nếu địch phát hiện ở khoảng cách xa thì các loại hỏa lực dập xuống càng khủng khiếp.

Vùng rực lửa

Cựu phóng viên chiến trường của quân đội Mỹ Ronald Haeberle (sinh năm 1940) - người công bố bộ ảnh vụ thảm sát Mỹ Lai ngày 16/3/1968 gây chấn động thế giới, từng có mặt tại Đức Phổ vào cuối năm 1967 - kể lại rằng trên núi luôn có lửa cháy và những tiếng nổ. Đồng đội của ông luôn trong tâm trạng không biết ngày trở về, bởi đêm xuống thì khắp các thôn xóm nằm ngoài hàng rào căn cứ hoặc các khu dồn đều trở thành vùng giải phóng.

Bác sĩ Đặng Thùy Trâm viết về giây phút đi xuống vùng địch vào ban đêm: “5/8/69. Đi cấp cứu ban đêm, đường đi qua nhiều đoạn nguy hiểm, những con đường quốc lộ xe địch qua lại thường xuyên và những ngọn đồi nơi quân Mỹ đóng. Đèn từ những khu căn cứ rực sáng, mình đi giữa cánh đồng Phổ Thuận, ba bên là ba nguồn sáng rực rỡ, núi Chóp, núi Xương Rồng và những ngọn pháo sáng treo lơ lửng phía trước mắt... Có thể mình sẽ gặp địch và cũng có thể mình sẽ ngã xuống, trong tay xách thuốc còn nắm chặt và người ta cũng sẽ thương tiếc người con gái đã hy sinh vì cách mạng giữa tuổi đời còn xanh ngát ước mơ”.

Thị trấn Đức Phổ thập niên 70 là một phố thị xập xình nhạc Tây, hàng quán ngập trong khói thuốc Mỹ. Từ thị trấn này chạy dọc xuống biển về hướng đông (khoảng 8 km) nằm dưới sự kiểm soát của chính quyền Sài Gòn. Tuy nhiên, cách thị trấn Đức Phổ chỉ 1 km về hướng tây là vùng căn cứ địa của cách mạng.

Cứ sau 5 giờ chiều, cái ranh giới “1 km” ấy biến thành con số 0. Bóng đêm bao phủ đến đâu là du kích lập tức tràn ngập khắp các ngõ ngách để vận động lương thực, xây dựng phong trào. Thỉnh thoảng lại vang lên những tiếng súng thưa thớt - đó là khi địch phục kích chạm mặt du kích, hoặc quân giải phóng không may rơi vào ổ phục kích của đối phương.

Trạm xá Bác Mười và nơi chị Trâm công tác nằm sâu về hướng tây, vùng rừng núi hiểm trở, cư dân sống thưa thớt. Thỉnh thoảng có những người dân không bám trụ được chạy xuống vùng địch thì gọi là “đi hợp pháp” (chạy về phía địch nhưng vẫn ngầm hoạt động cách mạng).

Phần lớn cán bộ cách mạng đều kiên trung bám trụ, tuy nhiên cũng không tránh khỏi việc có người không chịu nổi gian khổ đã trốn về phía đông, thời đó gọi là “đi chiêu hồi”. Mỗi lần có cán bộ chiêu hồi thì toàn bộ mật khẩu liên lạc, vị trí đóng quân, hầm bí mật... đều phải thay đổi.

Trong nhật ký, bác sĩ Trâm viết: “29/11/69. Bệnh xá chưa làm xong đã lại di chuyển. Có một thằng đã biết chỗ mình ở chạy theo địch. Lại vác ba lô lên đường đi tìm địa điểm mới. Mình trở về cánh Nam. Tạm biệt cánh Bắc. Ra đi không thấy lưu luyến mà chỉ thấy lòng nặng những lo âu. Địch đang tập trung đánh phá cánh Bắc của cái huyện đầu sóng ngọn gió này. Chúc các đồng chí ở lại kiên cường trụ bám chiến đấu để giành lấy những ngày êm đềm vui tươi trên mảnh đất trù phú xinh đẹp này”.

5-bai-2-bac-si-huynh-thanh-phuong-nguyen-giam-doc-trung-tam-y-te-duc-pho-tung-cung-du-kich-tru-bam-ngay-sat-nach-can-cu-my-o-nui-dang-anh-le-van-chuong.jpg
Bác sĩ Huỳnh Thanh Phương, nguyên Giám đốc Trung tâm y tế Đức Phổ từng cùng du kích trụ bám ngay sát nách căn cứ Mỹ ở núi Dàng. Ảnh: Lê Văn Chương

Ðội quân tí hon

Ông Phạm Ngọc Phi, thời đó mới là một cậu bé 14 tuổi sống ở phía đông sân bay Gò Hội (vùng địch chiếm), kể lại rằng đám trẻ con cứ thấy lính Mỹ đi hành quân là giơ tay chào “OK” rồi được ném cho mấy viên kẹo ngọt. Tuy nhiên, dù còn nhỏ tuổi, các em đã được giao nhiệm vụ cảnh giới: thấy lính Mỹ vô làng thì hô mật khẩu như “bò ra” (có nghĩa là có lính).

Trong nhật ký, bác sĩ Đặng Thùy Trâm ghi lại những kỷ niệm đầy nụ cười giữa bom đạn. Có lần đang họp Huyện đoàn thì địch ập vô bất ngờ: “Cho đến lúc có một anh dân tộc chạy vào báo địch ở sát bên nách lúc đó mới rõ. Tiếp theo là những lúc chạy càn, may mà xử trí kịp trước tình huống chớ nếu không rọ cũng xơi bọn mình, hoặc cũng chết vì pháo hoặc bộ binh. Trong tình huống đó bọn mình vẫn giữ được cái vui tươi, nụ cười không tắt trên những gương mặt trẻ trung”.

Chiến thuật bám địch của du kích Đức Phổ để chia lửa và ghìm chân lính Mỹ, du kích thường đào hầm bí mật ngay sát quốc lộ. Khi lính Mỹ rà mìn, cắm cờ thông báo thông đường, du kích lại bò lên giữa ban ngày để cài mìn trở lại. Những căn hầm bí mật này thường được đào dưới chân đám ruộng, luồn lỗ thông hơi ra phía bờ sông; đầu ống thông hơi được buộc một chùm ớt cay để khi chó béc giê đánh hơi tới gần sẽ bị hắt xì và bỏ đi.

Cựu phóng viên chiến trường Mỹ Ronald Heaberle từng chụp hàng trăm tấm ảnh rừng núi Ba Trang từ trực thăng UH - 1A, thỉnh thoảng thấp thoáng bóng những ngôi nhà sàn giữa rừng. Sau gần 60 năm, ông vẫn tò mò muốn biết, có những chuyện buồn gì đã xảy ra trong ngôi làng nằm trong rừng núi?