Trong căn nhà nhỏ trên đường Nguyễn Văn Quá (phường Đông Hưng Thuận, TPHCM), bà Ngô Thị Vinh (74 tuổi), cựu nữ giao liên Biệt động Sài Gòn, chậm rãi lấy ra tấm ảnh cũ. Bà chỉ vào từng gương mặt thân quen như ông Mai Chí Thọ, ông Năm Lai, Tư lệnh Trần Hải Phụng và người chồng quá cố ông Hoàng Thái Việt.
Ảnh: Nguyễn Tiến
Hơn nửa thế kỷ trôi qua, ký ức về những lần vượt qua cửa tử, chuyến xe cứu thương vượt trạm gác và lời thì thầm cứu mạng giữa chợ Suối Sâu vẫn in đậm trong tâm trí bà.
Cô bé 11 tuổi và những chuyến giao liên đầu tiên
Ký ức cách mạng của bà Vinh bắt đầu từ năm 1963. Khi ấy, bà mới là cô bé 11 tuổi, sống cùng gia đình ở khu vực Tân Bình. Sau khi cha bà là ông Ngô Ngọc Kim trở về từ nhà tù đối phương, ông bắt đầu hướng dẫn con gái bước vào con đường hoạt động bí mật.
“Cha đi thì chỉ sao con làm vậy”, bà Vinh nhớ lại lời của cha năm nào. Công việc ban đầu của cô bé thiếu niên chỉ đơn giản là đưa thư, chuyển tin tức cho các cán bộ, cô chú hoạt động trong mạng lưới cơ sở nội thành. Dáng vẻ ngây thơ của một đứa trẻ trở thành tấm bình phong giúp bà dễ dàng qua mắt lực lượng mật vụ dày đặc.
Đến năm 1965, bà chính thức “thoát ly”, vào căn cứ kháng chiến. Tại đây, bà được học tập, rèn luyện nghiệp vụ bài bản.
Bà Vinh chia sẻ: “Vào chiến khu, các chú, các bác dạy kỹ lắm. Từ cách đi đứng, ngụy trang đến giờ đổi ca, vị trí từng trạm gác của lính. Tôi lúc đó còn nhỏ, lanh trí, nhìn như một đứa trẻ nên dễ qua mắt địch”.
Từ đây, nhiệm vụ của bà không còn đơn thuần là đưa thư. Bà bắt đầu đảm nhận nhiều việc nguy hiểm hơn: vận chuyển vũ khí, đưa cán bộ từ nội đô ra chiến khu và dẫn đường cho thương binh vượt tuyến rời khỏi thành phố. Mọi di chuyển giữa nội đô Tân Bình và vùng căn cứ trở thành những chuyến đi thường xuyên đầy hiểm nguy.
Chuyến xe cứu thương qua cửa tử
Trong số vô vàn nhiệm vụ sinh tử, bà Vinh nhớ nhất những lần đưa thương binh từ nội thành ra căn cứ. Có lần, một chiến sĩ bị thương rất nặng cần được chuyển gấp ra ngoài. Bà cùng người nhà chiến sĩ đến khu vực Bệnh viện Sài Gòn (gần chợ Bến Thành) thuê một chiếc xe cứu thương tư nhân. Chiếc xe được cắm cờ chữ thập đỏ.
“Xe có cờ cứu thương thì họ biết trong xe có người bị thương, thường cho qua”, bà Vinh giải thích về chiến thuật tận dụng chính quy định kiểm soát của đối phương.
Chuyến đi được ấn định vào buổi trưa. Đó là thời điểm bà đã tính toán kỹ lưỡng vì trùng với lúc các trạm gác đổi ca, ăn cơm. Nhờ vậy, chiếc xe lần lượt vượt qua các chốt kiểm soát mà không bị khám xét.
Bà Vinh kể tiếp: “Khi đến gần chốt gác ở Trảng Bàng, nơi có lò nấu đường của dân, cáng thương đã được chuẩn bị sẵn. Xe vừa dừng, thương binh lập tức được chuyển xuống. Do địa điểm nằm sát chốt địch, đơn vị phải bố trí một tổ phục kích gần đó. Nếu bị phát hiện, tổ công tác sẽ nổ súng đánh lạc hướng để bảo vệ thương binh”.
Sau khi đưa xuống xe cứu thương an toàn, thương binh được giấu dưới xe bò để tiếp tục chuyển sâu vào vùng căn cứ. Với nữ giao liên trẻ, mỗi chuyến đi là một lần tính toán chi ly từng phút, từng giây, vì chỉ một sơ suất nhỏ cũng phải trả giá bằng mạng sống.
Lời thì thầm giữa chợ Suối Sâu
Không phải chuyến đi nào cũng diễn ra theo đúng kịch bản. Lòng tin và sự chở che của người dân mới là tấm lá chắn vững chắc nhất cứu mạng người giao liên giữa lòng địch.
Bà Vinh nhớ lại một lần nhận nhiệm vụ đưa cán bộ vào căn cứ. Khi xe đò dừng tại khu vực chợ Suối Sâu (Tây Ninh), theo nguyên tắc, bà bước xuống xe trước để thăm dò tình hình, quan sát xem khu vực có đang bị càn quét hay phục kích hay không.
Khi đang lội giữa dòng người mua bán, một phụ nữ lớn tuổi xa lạ bất ngờ tiến lại gần, ghé sát tai bà thì thầm: “Con đi theo mẹ”.
Không một lời giải thích thêm. Linh cảm mách bảo có chuyện chẳng lành, bà Vinh lập tức bước theo.
Bà Vinh hồi tưởng: “Lúc đó linh cảm tôi mách bảo có chuyện rồi. Tôi đi theo bà, nhưng không dám đi sát. Phải giữ khoảng cách, lỡ địch phát hiện thì bà cụ cũng không bị liên lụy”.
Người phụ nữ dắt bà rẽ sang một con đường mòn khác luồn sâu vào căn cứ. Chỉ khi đã đến nơi an toàn, bà Vinh mới bàng hoàng biết tin tuyến đường chính phía trên Trảng Bàng lúc đó đang bị lực lượng đối phương giăng quân phục kích.
“Đến nay tôi vẫn không biết người phụ nữ năm ấy là ai. Bà cụ có thể không biết rõ tôi là ai, nhưng trong mạng lưới cơ sở bí mật, chỉ một tín hiệu, một câu nói đúng lúc cũng đủ cứu một người khỏi tay đối phương”, bà ngậm ngùi.
Đến giai đoạn chuẩn bị cho Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, căn nhà của gia đình bà Vinh ở Tân Bình trở thành một cơ sở bí mật. Phía trên, gia đình bán xôi, bán hàng rong để giữ vẻ bình thường; bên dưới là căn hầm cất giấu vũ khí, đạn dược. Cha bà cũng trực tiếp quản lý một cơ sở ém quân trên đường Vườn Chuối (Quận 3).
Cuối năm 1967, một người trong mạng lưới bị bắt và khai ra địa chỉ nhà bà. Một đêm mưa, cảnh sát ập vào, lục soát căn nhà rồi đưa bà Vinh, khi ấy mới 15 tuổi, về Tổng nha Cảnh sát Sài Gòn.
Căn hầm vũ khí không bị phát hiện, nhưng bà phải trải qua nhiều trận tra khảo. Bám sát chỉ đạo của tổ chức, bà một mực nói mình chỉ ở nhà phụ mẹ bán hàng, không biết hoạt động của người lớn. Khi bị hỏi về cha, bà bình tĩnh đáp: “Ba tôi có vợ bé, đi theo bầy con riêng từ lâu rồi, tôi không ở chung nên không biết ông ấy ở đâu”.
Không có đủ chứng cứ kết tội, sau hơn một năm bị giam, bà Vinh được trả tự do vào năm 1968. Tuy nhiên, mật vụ vẫn tiếp tục theo dõi. Để bảo vệ cơ sở và đồng đội, bà tạm ngừng hoạt động, lẩn tránh lên khu vực Tòa Thánh Tây Ninh.