Lý do Ngân hàng Nhà nước mở ‘van’ cho tăng trưởng tín dụng

TPO - Hàng loạt điều chỉnh chính sách của Ngân hàng Nhà nước từ đầu năm đến nay như nới tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung - dài hạn, điều chỉnh cách tính room tín dụng hay loại trừ dư nợ của 18 dự án lớn khỏi hạn mức tăng trưởng tín dụng đang phát đi thông điệp điều hành rõ ràng: Hỗ trợ tăng trưởng kinh tế nhưng không đánh đổi sự ổn định của hệ thống tài chính.

Nới dư địa tín dụng

Trong bối cảnh kinh tế cần thêm động lực để đạt mục tiêu tăng trưởng, Ngân hàng Nhà nước đã liên tiếp điều chỉnh nhiều chính sách tín dụng theo hướng linh hoạt hơn nhưng vẫn giữ nguyên nguyên tắc kiểm soát rủi ro.

Từ đầu năm đến nay, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư 08 điều chỉnh quy định về tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR), Thông tư 25 nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn lên 40%. Đồng thời, cơ quan quản lý cũng điều chỉnh cách tính tăng trưởng tín dụng, cho phép loại trừ một số khoản dư nợ đặc thù, nhất là các dự án quy mô lớn.

Mới đây nhất, Ngân hàng Nhà nước đồng ý loại trừ dư nợ của 18 dự án lớn thuộc các tập đoàn như Sun Group, Vingroup và Masterise khỏi cách tính room tín dụng. Động thái này được thị trường đánh giá là giúp mở rộng thêm không gian tín dụng cho các ngân hàng mà không phải điều chỉnh mục tiêu tăng trưởng tín dụng chung.

Tại Talk do VietnamBiz tổ chức mới đây, bà Nguyễn Thị Phương Lam - Giám đốc Phân tích Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) - cho biết, đầu năm 2026, thị trường từng kỳ vọng môi trường chính sách tiền tệ sẽ thuận lợi hơn khi Chính phủ nhiệm kỳ mới bắt đầu. Tuy nhiên, căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông bùng phát từ cuối tháng 5 đã làm gia tăng áp lực lạm phát toàn cầu, khiến nhiều ngân hàng trung ương duy trì chính sách tiền tệ thận trọng hơn.

tt.png
Tăng trưởng tín dụng năm nay lên đến 19% nếu cộng thêm tín dụng cho 18 dự án lớn.

Trong bối cảnh đó, dư địa điều hành của Việt Nam cũng bị thu hẹp so với kỳ vọng ban đầu. Dẫu vậy, theo bà Lam, Ngân hàng Nhà nước vẫn duy trì được môi trường tiền tệ ổn định để hỗ trợ nền kinh tế.

"Một điểm tích cực từ đầu năm đến nay là mặt bằng tỷ giá tương đối ổn định. Thậm chí trên thị trường tự do, tỷ giá cũng tiệm cận với tỷ giá niêm yết của các ngân hàng thương mại", bà Lam nhận định.

Theo bà Lam, để duy trì sự ổn định này, Việt Nam phải chấp nhận mặt bằng lãi suất cao hơn so với những năm trước nhằm giữ chênh lệch lãi suất giữa đồng Việt Nam và USD ở mức đủ hấp dẫn, qua đó hạn chế áp lực lên tỷ giá và dòng vốn ngoại tệ.

Ở góc độ tín dụng, bà Lam cho rằng việc điều chỉnh cách phân loại tín dụng bất động sản, tách riêng các khoản vay phục vụ nhà ở hoặc các dự án có dòng tiền ổn định là hướng đi hợp lý nhằm vừa hỗ trợ tăng trưởng, vừa hạn chế rủi ro.

Mặc dù Ngân hàng Nhà nước đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng năm nay ở mức khoảng 15%, thấp hơn mức trên 19% của năm 2025, nhưng nếu cộng thêm phần tín dụng dành cho 18 dự án lớn được loại trừ khỏi room tín dụng thì mức tăng trưởng thực tế vẫn có thể tiến gần 19%.

Hướng tới bỏ room tín dụng theo chuẩn quốc tế

Bà Đỗ Minh Trang - Giám đốc Phân tích Chứng khoán ACB (ACBS) - cho rằng, chuỗi chính sách gần đây cho thấy Ngân hàng Nhà nước đang theo đuổi hai mục tiêu song song.

Thứ nhất là nâng cao tính minh bạch đối với thị trường quốc tế thông qua việc cam kết công bố dữ liệu mua bán ngoại tệ và dự trữ ngoại hối từ đầu năm 2027. Theo bà, đây là bước đi phù hợp với thông lệ quốc tế, góp phần nâng cao uy tín của Việt Nam trên thị trường tài chính toàn cầu và hỗ trợ mục tiêu phát triển thị trường tài chính giai đoạn 2026 - 2030.

Thông điệp thứ hai là thúc đẩy tăng trưởng trong nước nhưng tránh tạo ra tăng trưởng quá nóng.

Theo bà Trang, Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục sử dụng linh hoạt các công cụ điều hành để định hướng dòng vốn vào những lĩnh vực có khả năng tạo giá trị lâu dài như khu công nghiệp, khu chế xuất, nhà ở xã hội thay vì để tín dụng tập trung quá mức vào các phân khúc đầu cơ.

Đánh giá về việc điều chỉnh cách tính room tín dụng và nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung - dài hạn lên 40%, bà Trang cho rằng đây không đơn thuần là giải pháp kỹ thuật mà là thay đổi mang tính hệ thống.

Theo đó, khi các khoản vay đối với khu công nghiệp, khu chế xuất và nhà ở xã hội không còn bị tính vào hạn mức tín dụng bất động sản, các ngân hàng có thế mạnh ở những lĩnh vực này sẽ có thêm dư địa mở rộng cho vay bất động sản thương mại nếu có lợi thế về chi phí vốn.

Đây chủ yếu là nhóm ngân hàng thương mại có vốn nhà nước, sở hữu nguồn vốn giá rẻ và có tỷ trọng khách hàng doanh nghiệp FDI lớn. Khi mở rộng cho vay nhà ở thương mại, nhóm ngân hàng này có thể góp phần kéo giảm mặt bằng lãi suất cho vay trên toàn thị trường.

Trong khi đó, các ngân hàng vốn tập trung nhiều vào bất động sản thương mại cũng sẽ có động lực dịch chuyển sang những phân khúc ít rủi ro hơn như khu công nghiệp hay nhà ở xã hội, qua đó đa dạng hóa danh mục tín dụng.

Ở góc độ thanh khoản, bà Phương Lam cho rằng nguồn vốn cho vay của ngân hàng không chỉ phụ thuộc vào tiền gửi dân cư. Tuy nhiên, trước đây các quy định về tỷ lệ LDR và tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung - dài hạn buộc nhiều ngân hàng phải đẩy mạnh huy động để đáp ứng yêu cầu an toàn thanh khoản.

"Khi các chỉ tiêu này được nới, dư địa để cung ứng vốn cho các dự án trung và dài hạn sẽ lớn hơn", bà Lam phân tích.

Theo bà Lam, những thay đổi hiện nay vẫn chủ yếu mang ý nghĩa hỗ trợ ngắn hạn, giúp hệ thống ngân hàng có thêm không gian cấp tín dụng trong giai đoạn nền kinh tế cần thêm nguồn lực để phục hồi và tăng trưởng.