45 điểm tuyệt đối: chỉ 3 thí sinh đạt 30 điểm thi thực
Theo danh sách trúng tuyển năm 2026 của ĐH Y Dược TPHCM, có 45 thí sinh đạt mức điểm xét tuyển 30/30. Tuy nhiên, bóc tách dữ liệu cho thấy chỉ 3 thí sinh đạt điểm 10 ở cả ba môn Toán, Hóa học và Sinh học mà không cần sử dụng điểm cộng.
Phần lớn thí sinh còn lại có tổng điểm ba môn chưa đạt 30 nhưng được cộng điểm theo quy định để chạm mức điểm xét tuyển tuyệt đối. Mức cộng thể hiện trong danh sách dao động từ 0,65 đến 1,5 điểm. Trong 45 thí sinh, 41 em trúng tuyển ngành Y khoa, 3 em vào ngành Răng – Hàm – Mặt và một em vào ngành Dược học. Tất cả đều đăng ký ngành trúng tuyển ở nguyện vọng 1.
Đáng chú ý, trong danh sách có nhiều thí sinh cùng đạt 28,5 điểm tổ hợp B00 nhưng sau khi được cộng tối đa 1,5 điểm ưu tiên, qua đó đạt mức điểm xét tuyển 30/30 như các thí sinh khác. Con số này cho thấy cần phân biệt rõ giữa điểm thi thực tế và điểm xét tuyển sau khi cộng điểm, tránh tạo cảm giác có hàng chục thí sinh cùng đạt tuyệt đối ba môn thi.
Danh sách trên không đồng nghĩa tất cả trường hợp được nâng lên 30 điểm đều nhờ IELTS, bởi điểm xét tuyển còn có thể gồm điểm ưu tiên và các loại điểm cộng khác. Tuy nhiên, nó phản ánh rõ sức nặng của phần điểm nằm ngoài kết quả ba môn thi, nhất là tại những ngành có điểm chuẩn sát trần.
Khi khoảng cách giữa trúng tuyển và không trúng tuyển chỉ được tính bằng vài phần mười điểm, một chứng chỉ ngoại ngữ được quy đổi thành 0,5, một điểm, thậm chí cao hơn, có thể làm thay đổi thứ tự của hàng nghìn thí sinh.
Học IELTS vì ngoại ngữ hay vì điểm cộng?
Theo tìm hiểu của phóng viên, trước lợi thế từ chứng chỉ IELTS, nhiều học sinh phải phân bổ thêm thời gian bên cạnh việc học ba môn trong tổ hợp xét tuyển. Với các em nhắm đến ngành có mức cạnh tranh cao, chứng chỉ ngoại ngữ không còn đơn thuần là mục tiêu nâng cao năng lực, mà trở thành một phần của chiến lược vào đại học.
Gia đình có điều kiện thường cho con học IELTS từ sớm, tham gia các khóa luyện thi và thi lại để đạt mức điểm có lợi nhất. Trong khi đó, không phải học sinh nào cũng có điều kiện tiếp cận trung tâm ngoại ngữ, giáo viên chất lượng hoặc đủ khả năng chi trả lệ phí thi nhiều lần.
L.T.K, học sinh lớp 12 một trường THPT tại TPHCM cho biết, ngay từ khi bước vào cấp ba đã xác định vào ngành y khoa nên tìm hiểu kỹ ngoài lợi thế học tập các môn phổ thông thì chứng chỉ IELTS được xem là một lợi thế trong xét tuyển.
"Ngay từ lớp 10 em đã học thêm để làm quen phương pháp học IELTS, đến năm lớp 11 em dự thi và đạt 6.5 điểm. Tuy nhiên đây là mức điểm vẫn chưa được như kỳ vọng nên em tiếp tục ôn trong năm nay, dự kiến sau Tết Nguyên đán sẽ thi và mục tiêu là 7.5 điểm. Chi phí trong hai năm qua dao động trên 50 triệu đồng", K. kể và cho biết, nếu Bộ GD&ĐT đột ngột bỏ điểm cộng thì em cảm thấy rất hụt hẫng.
Từ đây, một câu hỏi được đặt ra: học sinh đang đầu tư để sử dụng ngoại ngữ trong học tập, nghề nghiệp, hay đang phải mua thêm một lợi thế trong cuộc đua tuyển sinh?
Bản thân IELTS là công cụ đánh giá năng lực sử dụng tiếng Anh, không phải nguyên nhân tạo ra bất bình đẳng. Vấn đề nằm ở cách chứng chỉ này được sử dụng. Nếu tiếng Anh là năng lực đầu vào cần thiết của chương trình đào tạo, việc đưa ngoại ngữ vào tổ hợp hoặc xây dựng tiêu chí tuyển sinh phù hợp là có cơ sở. Nhưng nếu thí sinh đã được xét tuyển bằng điểm thi môn Toán, Hóa học, Sinh học rồi tiếp tục được cộng điểm nhờ IELTS, chứng chỉ ngoại ngữ có thể trở thành một “vé ưu tiên” ngoài tổ hợp chuyên môn.
GS Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Giáo dục đại học cho biết, theo dữ liệu tuyển sinh năm 2026, cả nước có hơn 37.300 thí sinh sử dụng chứng chỉ tiếng Anh để được cộng điểm. Trong đó, hơn 35.900 em dùng IELTS. IELTS 6.0 là mức phổ biến nhất với hơn 8.300 em đạt được, nhưng các trường quy đổi thành 26 mức điểm cộng, và điều này có thể 'gây bất công' trong công tác tuyển sinh. “Thống kê hiện nay nhiều ngành điểm chuẩn khoảng 28 nhưng được cộng tới 1,5 điểm, khiến hàng nghìn thí sinh đạt 26,5-28 điểm vẫn không trúng tuyển chỉ vì không có điều kiện thi chứng chỉ có chi phí cao.
Không thể đổi luật khi học sinh đã bước vào cuộc đua
Theo dự thảo đang được lấy ý kiến, từ năm 2027, quy chế tuyển sinh có thể bỏ các nội dung về điểm cộng do cơ sở đào tạo tự xây dựng, trong đó có điểm cộng từ chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế, giải học sinh giỏi và một số thành tích khác. Bộ GD&ĐT đồng thời dự kiến thu gọn các phương thức xét tuyển.
TS Mai Đức Toàn, Giám đốc Trung tâm Tuyển sinh – Truyền thông, Trường Đại học Gia Định, cho rằng điểm cộng chứng chỉ ngoại ngữ có thể tạo ra chênh lệch cơ hội giữa học sinh ở thành phố và học sinh vùng khó khăn. Nếu các trường muốn khuyến khích năng lực tiếng Anh, có thể sử dụng chứng chỉ để miễn, giảm học phần ngoại ngữ thay vì cộng trực tiếp vào điểm đầu vào.
Bình chọn
Có nên bỏ điểm cộng chứng chỉ IELTS?
ThS Phạm Thái Sơn, Giám đốc Trung tâm Tuyển sinh và Truyền thông, Trường Đại học Công Thương TPHCM, cũng cho rằng cần tránh tình trạng “lợi thế chồng lợi thế”, khi cùng một năng lực ngoại ngữ được ghi nhận nhiều lần trong quá trình xét tuyển.
Dù vậy, bỏ điểm cộng ngay từ mùa tuyển sinh 2027 cũng đặt ra bài toán chuyển tiếp. Nhiều học sinh đã học IELTS trong thời gian dài, bỏ ra không ít thời gian và chi phí dựa trên phương án tuyển sinh được các trường áp dụng những năm qua. Một thay đổi quá gấp có thể khiến kế hoạch học tập của các em bị đảo lộn.
Vì thế, yêu cầu đặt ra không chỉ là bỏ hay giữ điểm cộng IELTS, mà còn phải xác định chứng chỉ ngoại ngữ nên đứng ở đâu trong hệ thống tuyển sinh. (Ảnh do AI tạo)
Ngoại ngữ cần được trả về đúng giá trị: một năng lực phục vụ học tập, nghiên cứu và nghề nghiệp. Nếu chương trình đào tạo thực sự cần tiếng Anh, trường đại học có thể đưa môn này vào tiêu chí đầu vào, dùng chứng chỉ để thay thế điểm ngoại ngữ hoặc miễn học phần tương ứng. Còn nếu ngoại ngữ không phải năng lực cốt lõi của ngành, việc cộng thêm điểm vào tổng điểm chuyên môn cần được xem xét thận trọng.
Một kỳ tuyển sinh công bằng không phủ nhận năng lực tiếng Anh của học sinh. Nhưng nó cũng không nên để điều kiện tài chính và khả năng tiếp cận chứng chỉ trở thành khoảng cách quyết định ai được bước qua cánh cửa đại học.
Nên có lộ trình cụ thể
Dù đồng tình với việc bỏ điểm cộng, TS Mai Đức Toàn cho rằng thời điểm áp dụng năm 2027 cần được cân nhắc. Theo ông Toàn, Bộ GD&ĐT nên có lộ trình rõ ràng, không thể thay đổi quá nhanh để học sinh và các trường THPT có thời gian chuẩn bị. Cụ thể, học sinh THPT đã bắt đầu định hướng môn học, chứng chỉ và phương thức xét tuyển từ năm lớp 10, 11. Nếu quy định thay đổi quá sát thời điểm tuyển sinh, các em có thể rơi vào tình trạng bị động. Tương tự, ThS Phạm Thái Sơn đề xuất lộ trình thay đổi nên được tính toán trước từ 3 đến 5 năm (ví dụ áp dụng từ năm 2028 hoặc 2029).