Hiểu đúng về công nghiệp văn hóa

TPO - Những sân vận động kín khán giả và các kỷ lục doanh thu phòng vé là những chỉ dấu tích cực không thể phủ nhận, cho thấy tiềm năng phát triển của thị trường văn hóa Việt Nam.

Nhưng chính những con số đó cũng dễ tạo ra ảo giác chúng ta đã có nền công nghiệp văn hóa trong khi thực tế có thể chỉ là những thành công riêng lẻ, chưa đủ bền vững để hình thành một hệ thống.

Cuối năm ngoái, khi tôi tham gia một hội thảo khoa học về công nghiệp văn hóa tại TPHCM, nhận định tưởng chừng đơn giản lại gây ra phản ứng đáng chú ý. Khi tôi cho rằng công nghiệp văn hóa ở Việt Nam đang bị hiểu theo cách “đơn giản hóa” - đồng nhất với một số sản phẩm thành công - nhiều người tham dự tỏ ra bất ngờ. Sau đó, không ít người chia sẻ rằng họ chưa từng tách bạch rõ giữa “một sự kiện thành công” và “một hệ thống công nghiệp”.

Sự nhầm lẫn đó không chỉ là câu chuyện nhận thức. Nó đang định hình cách công nghiệp văn hóa được nhìn nhận, và có thể cả cách nó đang được phát triển tại Việt Nam.

59834315413826925799040227787444440007656759n-1765758696661-17657586968311256844162.jpg
See The Light của Mỹ Tâm thu hút hơn 40.000 khán giả.

Thành công riêng lẻ chưa tạo nên hệ thống

Việt Nam đang chứng kiến những con số tăng trưởng ấn tượng trong lĩnh vực văn hóa đại chúng. Nhưng chính các dữ liệu cụ thể ấy cũng cho thấy một bức tranh phức tạp hơn nhiều.

Theo dữ liệu từ Box Office Vietnam và các báo cáo thị trường điện ảnh, riêng năm 2025, doanh thu phim Việt đạt khoảng 3.650 tỷ đồng, gần gấp đôi năm 2024. Trong top 10 phim có doanh thu cao nhất, Mưa đỏ phá kỷ lục mọi thời đại khi đạt khoảng 714 tỷ đồng, trong khi 6 phim khác vượt mốc 200 tỷ đồng.

Tuy nhiên, cùng thời điểm, hơn một nửa số phim Việt phát hành thương mại không đạt điểm hòa vốn. Hơn chục phim lỗ nặng, không ít tác phẩm bị đánh giá thấp về chất lượng, có trường hợp doanh thu chỉ đạt 153 triệu đồng như Tiệm cầm đồ: Có chơi, có chịu. Hay như Hoàng Nam, một đạo diễn từng có phim đầu tay vượt 100 tỷ đồng, đến dự án Thế hệ kỳ tích (phát hành cuối 2025) chỉ thu khoảng 853 triệu đồng và rời rạp sau hai tuần.

Sự phân hóa này cho thấy một thực tế là thị trường có những “đỉnh cao” chưa từng có, nhưng vẫn thiếu “độ dày” và sự ổn định. Khi số phim thua lỗ vẫn áp đảo so với số phim thành công, và tranh cãi về chất lượng ngày càng phổ biến.

9-6-17453733329661728586527.jpg
opening-6-1766876689-jpeg-1766879063.jpg
make-up-10-1766877067-jpeg-1766878916.jpg
Concert Anh trai vượt ngàn chông gai và Anh trai say hi đặt nền móng cho sự phát triển của công nghiệp văn hóa lĩnh vực âm nhạc.

Trong âm nhạc, bức tranh cũng tương tự. Thị trường sôi động, nhưng chưa ổn định. Chuỗi concert Anh trai say hi mùa đầu tiên đạt tới đêm diễn thứ 9 (tính đến tháng 4/2026), nhưng mùa thứ hai lại dừng sớm khi tốc độ bán vé chậm lại (đến nay mới có đêm thứ hai). Anh trai vượt ngàn chông gai cũng tạo được nhiều đêm diễn liên tiếp, nhưng một format gần tương tự như Chị đẹp lại không thể lập được thành công đó với loại hình concert dù cùng nhà sản xuất.

Ở cấp độ cá nhân, Mỹ Tâm với show See The Light có thể thu hút khoảng 40.000 khán giả tại sân vận động Mỹ Đình, nhưng phần lớn nghệ sĩ khác vẫn phụ thuộc vào show nhỏ, show thương mại hoặc tài trợ MV.

Ở lĩnh vực ghi âm, quy mô thị trường vẫn còn hạn chế. Theo Liên đoàn Công nghiệp ghi âm Quốc tế (IFPI) và các phân tích khu vực Đông Nam Á, doanh thu ngành ghi âm tại Việt Nam vẫn chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng giá trị thị trường giải trí và phụ thuộc đáng kể vào các nền tảng xuyên quốc gia như YouTube, TikTok hay Spotify.

Một điểm đáng chú ý khác là khả năng “vượt biên giới” còn hạn chế ở cả âm nhạc lẫn phim ảnh. Không ít phim đạt doanh thu cao trong nước nhưng gần như không tạo được doanh thu quốc tế đáng kể, hoặc chỉ được phát hành ở quy mô hẹp, chủ yếu phục vụ cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Âm nhạc cũng như vậy khi tour diễn dù chỉ ở quy mô khu vực với nghệ sĩ Việt vẫn là điều chưa xảy ra, nhưng đêm diễn ở nước ngoài, nếu có, vẫn chỉ hướng đến khán giả Việt.

Khoảng cách này cho thấy thị trường giải trí Việt Nam vẫn còn rất xa so với các thị trường như Hàn Quốc hay Thái Lan trong việc xây dựng năng lực xuất khẩu sản phẩm giải trí.

Do đó, những con số và thành tích nội địa dù phản ánh một phần thành công nhưng lại chưa đủ để tái tạo một hệ thống công nghiệp đủ mạnh. Mà theo định nghĩa của UNESCO, công nghiệp văn hóa không được xác lập bởi những “đỉnh cao” riêng lẻ, công nghiệp văn hóa đúng nghĩa phải là khả năng tổ chức sản xuất, phân phối và tiêu dùng thành một chuỗi giá trị có thể lặp lại và mở rộng theo thời gian. Ở điểm này, Việt Nam vẫn đang ở giai đoạn đầu.

Không có “ngành” công nghiệp văn hóa đơn lẻ

Một phần của sự nhầm lẫn bắt nguồn từ cách chúng ta nói về công nghiệp văn hóa như một “ngành đơn lẻ”. Thực tế, đây là một cấu trúc liên ngành và công nghiệp sáng tạo được hiểu như những chuỗi hoạt động từ sáng tạo, sản xuất đến phân phối các sản phẩm dựa trên sáng tạo và vốn trí tuệ.

Trong logic đó, các lĩnh vực như điện ảnh, âm nhạc hay nội dung số không vận hành tách rời, mà liên kết với nhau trong cùng một hệ sinh thái giá trị. Điện ảnh không thể tách rời truyền thông; âm nhạc không thể tách rời nền tảng số; thời trang, du lịch và nội dung số vận hành trong cùng một logic giá trị. Thậm chí, xuất bản, di sản hay trò chơi điện tử cũng tương tự.

Các mô hình quốc tế cho thấy rõ điều này, nhưng theo những cách khác nhau.

Tại Mỹ, Hollywood không chỉ là sản xuất phim mà là một hệ thống sở hữu trí tuệ toàn cầu, nơi một tác phẩm có thể được khai thác qua rạp chiếu, nền tảng số, công viên giải trí và hàng hóa tiêu dùng. Theo Motion Picture Association, ngành điện ảnh và truyền hình Mỹ đóng góp hơn 279 tỷ USD cho nền kinh tế và hỗ trợ hơn 2,3 triệu việc làm.

Tại Vương quốc Anh, các ngành công nghiệp sáng tạo đóng góp hơn 120 tỷ bảng Anh mỗi năm (theo Bộ Văn hóa, Truyền thông và Thể thao Anh (DCMS)), tăng trưởng nhanh hơn nhiều ngành truyền thống nhờ các “creative clusters” và chính sách hỗ trợ.

Trong khi đó, Hàn Quốc phát triển làn sóng Hallyu như một hệ sinh thái tích hợp cao, nơi âm nhạc, truyền hình, thời trang và tiêu dùng vận hành như một chuỗi giá trị thống nhất, tạo ra hàng chục tỷ USD xuất khẩu mỗi năm. Sức mạnh mềm của Hàn Quốc hiện nay đến chủ yếu từ công nghiệp văn hóa. Và mô hình công nghiệp văn hóa ở Hàn Quốc là điển hình của khả năng liên kết và lan tỏa giá trị.

anh-4.jpg
Doanh thu hơn 710 tỷ đồng của Mưa đỏ nói riêng và hơn 3.500 tỷ đồng của phim Việt năm 2025 nói chung khiến khán giả kỳ vọng công nghiệp điện ảnh bứt phá.

Việt Nam không thiếu sáng tạo nhưng cần hiểu đúng

Những so sánh quốc tế đưa đến một kết luận rõ ràng: dù có điểm chung về mặt cấu trúc vận hành, nhưng không có mô hình nào có thể sao chép nguyên vẹn. Việc học hỏi quốc tế là cần thiết. Nhưng sao chép mô hình dù là Hollywood, thành phố sáng tạo ở Anh hay K-pop thường dẫn đến lệch pha, khi sản phẩm được nâng cấp nhưng hệ sinh thái hỗ trợ không tồn tại tương ứng.

Trong các nghiên cứu về kinh tế sáng tạo, Richard Florida và Charles Landry đều nhấn mạnh rằng mỗi quốc gia cần xây dựng hệ sinh thái dựa trên tài nguyên văn hóa và điều kiện thể chế riêng. Các nền kinh tế sáng tạo chỉ có thể chuyển hóa tiềm năng thành giá trị bền vững khi hội tụ ba yếu tố: hạ tầng sáng tạo, nhân lực chuyên môn và liên kết ngành.

Ở Việt Nam, cả ba yếu tố này đều đang phát triển, nhưng chưa đủ mạnh, chưa đủ kết nối và chưa đủ ổn định để tạo thành một hệ thống hoàn chỉnh. Nói cách khác, Việt Nam có năng lực sáng tạo nhưng chưa có mô hình rõ ràng để chuyển hóa năng lượng đó thành giá trị bền vững.

Một nền công nghiệp văn hóa không được đo bằng những khoảnh khắc bùng nổ. Thay vào đó, công nghiệp văn hóa được đo bằng khả năng tái tạo thành công. Một bộ phim thành công có thể dẫn đến nhiều dự án tiếp theo; một nghệ sĩ thành công có thể hình thành một hệ sinh thái; một sản phẩm văn hóa có thể lan sang du lịch, thời trang và tiêu dùng.

Những gì Việt Nam đang có là những tín hiệu đáng chú ý. Nhưng tín hiệu không phải là hệ thống. Nếu không phân biệt rõ điều đó, các chính sách và mô hình văn hóa rất dễ được xây dựng dựa trên những gì dễ đo lường như doanh thu, lượt xem, số khán giả đơn lẻ thay vì những yếu tố quyết định dài hạn như cấu trúc, liên kết và khả năng tái tạo.

Và khi đó, cái gọi là “công nghiệp văn hóa” có thể chỉ là một ảo giác, được tạo ra bởi những con số đúng, nhưng cách hiểu lại chưa thấu tỏ.

Thạc sĩ Lê Quang Đức - Học giả Chevening 2024-2025, Thạc sĩ Công nghiệp Văn hóa và Sáng tạo Đại học Sussex, Vương quốc Anh