Những cánh rừng gỗ lớn
Buổi sáng ở thôn A Duông (xã Đông Giang, TP. Đà Nẵng), ông Bnướch Ngang đi giữa khu rừng gần 3ha của gia đình. Những thân quế, lim đã qua vài năm chăm sóc, cây vươn thẳng, những tán lá mơn mởn giữa bạt ngàn núi rừng.
Sau nhiều năm trồng keo, ông quyết định chuyển đổi 1ha rừng để trồng cây gỗ lớn, chủ yếu là quế và lim. Bởi với ông, diện tích rừng này dù không mang lại lợi nhuận kinh tế đều đặn mỗi dăm ba năm như cây keo nhưng sẽ đem lại những giá trị to lớn, bền vững hơn cho đời con, đời cháu.
Ông Bnướch Ngang là người Cơ Tu, trước đây, gia đình ông và các hộ xung quanh chủ yếu trồng keo. Cây lớn nhanh, có thể khai thác sau một chu kỳ ngắn nhưng giá bán gỗ nhỏ không cao và phụ thuộc thị trường. Khoảng 5 năm trước, sau khi được cán bộ kiểm lâm, chính quyền địa phương tuyên truyền, hướng dẫn, ông bắt đầu thay đổi cách trồng rừng.
“Ngoài trồng cây keo, hiện bà con đang phát triển trồng rừng gỗ lớn, với các loại cây bản địa như lim, quế. Thời gian trồng lâu hơn nhưng góp phần bảo vệ rừng, giữ đất giữ nước vào mùa mưa để hạn chế sạt lở, lũ quét. Về lâu dài, trồng cây gỗ lớn cũng giúp bà con có thể phát triển sinh kế bền vững dưới tán rừng”, Bnướch Ngang nói.
Từ hơn một thập kỷ trước, ở xã miền núi Hiệp Đức (TP. Đà Nẵng), những người nông dân ở đây bắt đầu quản lý rừng, trồng rừng cây gỗ lớn và khai thác rừng trồng bền vững để góp phần làm giàu rừng tự nhiên.
Họ thành lập HTX Nông nghiệp Hiệp Thuận với chỉ hơn 50 hộ để cùng nhau học cách trồng rừng chuẩn quốc tế với những khái niệm rất mới mẻ ở thời điểm đó như: quản lý rừng, chứng chỉ quản lý rừng bền vững (FSC), rừng chứng chỉ…
Theo ông Nguyễn Hữu Dương - Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc HTX, bà con đã quen với lối trồng rừng cũ nên không dễ gì thay đổi. Phải mất vài năm, khi những cánh rừng trồng có chứng chỉ FSC mang lại hiệu quả kinh tế cao, người dân địa phương mới bắt đầu thay đổi thói quen.
Đến nay, HTX có 260 hộ trồng rừng với diện tích gần 1.500 ha rừng keo, phối hợp bảo vệ hơn 1.000 ha rừng tự nhiên.
“Hiện, HTX vẫn đang tiếp tục “số hóa” việc quản lý rừng, sử dụng GPS, lập bản đồ bằng phần mềm thu thập tọa độ... Những khoảnh rừng được quản lý trên bản đồ số giúp HTX dễ dàng hơn trong việc kiểm tra, tuần rừng và nhận diện các điểm nhạy cảm về môi trường. Đó là nền móng để chúng tôi đặt mục tiêu chinh phục thị trường tín chỉ carbon trong tương lai gần”, ông Dương chia sẻ.
Nhiều năm qua, TP. Đà Nẵng đang tập trung phát triển trồng rừng cây gỗ lớn bằng việc khuyến khích người dân chủ động trồng và khai thác cây keo bền vững hơn, chuyển đổi một phần diện tích trồng keo sang trồng các loại cây gỗ lớn bản địa.
Những người nông dân trồng rừng đang dần thay đổi tư duy, giá trị của những cánh rừng không chỉ tính bằng sản lượng gỗ khai thác mà còn giữ nước, chống xói mòn, bảo vệ đất, bảo tồn đa dạng sinh học, giữ sạch không khí… và xa hơn là kỳ vọng khai thác tín chỉ carbon.
Đà Nẵng tính chuyện “bán không khí”
Sau sáp nhập, Đà Nẵng là một trong những địa phương có diện tích rừng lớn với khoảng hơn 745 nghìn ha, trong đó, diện tích rừng trồng chiếm hơn 241 nghìn ha. Đây là dư địa rất lớn để thành phố phát triển kinh tế lâm nghiệp bền vững, tạo nền tảng để gia nhập thị trường carbon toàn cầu.
Bên cạnh các chính sách việc khuyến khích người dân mở rộng diện tích trồng rừng cây gỗ lớn, địa phương cũng đang nỗ lực hỗ trợ người dân phát triển sinh kế bền vững dưới tán rừng như: chi trả dịch vụ môi trường rừng, phát triển trồng cây dược liệu giá trị cao dưới tán rừng…
Mới đây, UBND TP. Đà Nẵng đã ban hành Quyết định 3688 phê duyệt Đề án phát triển và quản lý tín chỉ carbon rừng trên địa bàn thành phố giai đoạn 2026 – 2030, định hướng đến năm 2035.
Đề án mở ra một hướng đi mới trong cách thành phố tính giá trị của rừng. Không chỉ gỗ, lâm sản hay những lợi ích môi trường trực tiếp, khả năng hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng cũng được đặt mục tiêu trở thành một nguồn lực có thể tạo ra giá trị kinh tế.
Đó cũng là lý do trong giai đoạn 2026 - 2030, Đà Nẵng đặt mục tiêu hoàn thành điều tra, rà soát hiện trạng rừng; tính toán, xác định trữ lượng carbon; phân loại 100% diện tích rừng có tiềm năng triển khai dự án carbon rừng.
Địa phương sẽ phối hợp xây dựng cơ sở dữ liệu nền, xác lập đường cơ sở và mức tham chiếu phát thải rừng. Đây là những phần việc kỹ thuật quan trọng trước khi có thể xác định lượng giảm phát thải hoặc lượng carbon được hấp thụ để hình thành tín chỉ.
Theo đề án, Đà Nẵng dự kiến triển khai từ 1 – 3 dự án carbon rừng thí điểm, qua đó rà soát, đánh giá và hoàn thiện quy trình đo đạc, báo cáo, thẩm định và xác minh. Mục tiêu được đặt ra đến năm 2030 là có tối thiểu một dự án đủ điều kiện đăng ký và tham gia giao dịch tín chỉ carbon trên thị trường carbon trong nước hoặc quốc tế, phù hợp quy định pháp luật.
Theo ông Trần Văn Thu, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Đà Nẵng, thương mại hóa tín chỉ carbon rừng là hướng để chuyển giá trị hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng thành nguồn lực kinh tế, qua đó tạo thêm nguồn lực cho công tác bảo vệ và phát triển rừng.
Tuy nhiên, để một khu rừng có thể tạo ra tín chỉ carbon đáp ứng yêu cầu thị trường, địa phương phải giải quyết nhiều vấn đề về dữ liệu, kỹ thuật, tài chính, nhân lực và cơ chế chia sẻ lợi ích.
Đó là yêu cầu dữ liệu rừng phải đủ chính xác để xác định trữ lượng carbon, đường cơ sở và khả năng hấp thụ. Việc điều tra, xây dựng dự án, thẩm định và đăng ký tín chỉ cần nguồn kinh phí, công nghệ và nhân lực chuyên môn bởi đây vẫn là lĩnh vực mới đối với địa phương.
Một vấn đề khác là cơ chế phân chia lợi ích giữa Nhà nước, chủ rừng và cộng đồng. Với những hộ dân đang trực tiếp giữ rừng, nguồn thu từ carbon nếu hình thành phải gắn với quyền lợi cụ thể để tạo động lực duy trì rừng lâu dài. Bên cạnh đó là việc đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của thị trường quốc tế.
“Để chủ động tháo gỡ các vướng mắc trên, Chi cục Kiểm lâm đang tham mưu UBND thành phố trình cấp có thẩm quyền ban hành nghị quyết về phát triển tín chỉ carbon rừng”, ông Thu cho biết.
Bên cạnh đó, Chi Cục Kiểm lâm Đà Nẵng cũng phối hợp với các tổ chức như WWF Việt Nam và Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại Đà Nẵng để tìm kiếm hỗ trợ kỹ thuật và kết nối các đối tác, nhà đầu tư tiềm năng.
Xa hơn, Đà Nẵng định hướng kết nối nguồn cung tín chỉ carbon rừng với thị trường carbon trong nước, gắn với định hướng phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại thành phố và hệ thống giao dịch carbon theo lộ trình của Chính phủ.
Trong kỳ vọng đó, những cánh rừng của người Cơ Tu như gia đình ông Bnướch Ngang hay những khoảnh rừng chuẩn FSC của những người nông dân ở xã miền núi Hiệp Thuận không chỉ là nơi tạo sinh kế.
Việc chuyển từ những rừng keo ngắn ngày sang rừng gỗ lớn, trồng rừng theo tiêu chuẩn quốc tế bền vững đang tạo nền móng để Đà Nẵng bước vào một chu kỳ dài hơn, nơi giá trị kinh tế của rừng được tính toán cùng khả năng giữ nước, bảo vệ đất, bảo tồn đa dạng sinh học và hấp thụ carbon.