Từ Ba “gà” đến Ba “lồng đèn”
Tiếng lách cách chẻ tre, vót nan vọng ra từ khoảng sân nhỏ trước nhà nghệ nhân Huỳnh Văn Ba trên đường Phan Đình Phùng (phường Hội An Đông, TP. Đà Nẵng), hòa cùng ánh nắng chiều đổ dài trên những nan tre vàng óng. Dù đã ở tuổi 93, nhưng hằng ngày cụ vẫn miệt mài bên những khung tre. Khi kể về những chiếc đèn lồng, giọng cụ vẫn sang sảng, mắt không giấu nổi niềm tự hào.
Sinh ra tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam (cũ), tuổi thơ của cụ Ba gắn liền với lũy tre làng. “Từ hồi còn nhỏ, tôi đã thích đan lát làm ra những sản phẩm từ tre”, cụ nói.
Những cái tên mà người làng đặt cho cụ cũng từ tre. Đầu tiên, là Ba “gà” bởi hồi đấy nhà nuôi gà đá, cụ mày mò đan giỏ, đan lồng nhốt gà. Rồi thành Ba “đan” sau khi tay nghề đan lát ngày một vững. Khách hàng yêu cầu sản phẩm nào cụ cũng ráng nghĩ đủ cách làm. Có người mua chóa đèn để mở quán, bàn nào có chóa đèn thì khách mới chịu ngồi.
Thế rồi cụ bắt đầu nghĩ ra cách làm đèn lồng bằng giấy dó. Có một người bạn vẽ đẹp, cụ nhờ vẽ thêm. Rồi cụ sáng tạo ra loại đèn nguyên khung tre, thêm vài bông hoa, con bướm trang trí xung quanh cho lạ mắt. Cụ Ba tự hào: “Loại đèn này ở bên ngoài không ai có”.
Cụ Ba kể, trước đó, cụ làm đèn lồng cho nhiều hội quán, chùa nhưng chưa có loại nào gấp gọn được. Năm 1990, du khách quốc tế thấy những chiếc lồng đèn treo ở đình, hội quán liền thích thú ngỏ ý muốn mua về làm quà. Nhưng loại đèn truyền thống thì không xếp lại được, khó vận chuyển. Họ nói: “Nếu có loại xếp gọn được, giá nào tôi cũng mua”.
Từ đó, nghệ nhân Huỳnh Văn Ba bắt tay vào làm những chiếc đèn lồng gấp gọn đầu tiên. “Ban ngày thì đi tìm mua dụng cụ, vật liệu, tối đến tôi vắt tay lên trán nằm nghĩ miết, mày mò mãi, vài tháng sau thì thành công. Hồi đầu, tôi làm như cái quạt xòe ra xếp vào nhưng thấy không đẹp. Sau mới nảy ra ý tưởng làm đèn như cái dù, có thể kéo ra, bóp vào.
Cũng may mắn có chính quyền hỗ trợ cử mình đi chỗ này chỗ kia học hỏi. Tôi cũng tính toán kỹ lắm, người nước ngoài thì họ khỏe nên khi làm đèn tôi cũng thiết kế sao cho họ dễ sử dụng dễ xếp lại, có thể bỏ trong thùng năm ba chục cái được”, cụ Ba nhớ lại. Và giờ đây, mọi người thường gọi cụ với cái tên Ba “lồng đèn”.
Khi đó, xưởng nhà cụ tập trung khoảng ba mươi, bốn mươi người. Lương nhà nước lúc ấy chỉ ba chục đồng, nhưng mỗi ngày làm đèn lồng có thể kiếm được hàng chục đồng, vì thế ai cũng xin vào làm. Họ nói: “Nhờ có ông và nghề làm đèn lồng mà tôi và gia đình mới sống được qua thời khó khăn”. Cụ tâm sự: “Bản thân tôi không ham lợi cho bản thân, chỉ mong giải quyết công ăn việc làm cho mọi người”.
Không phải lụa, cũng chẳng phải vải gấm như bây giờ, thuở ấy chiếc đèn lồng Hội An được làm đơn giản từ những tấm giấy dó. Ngày nay, từ chất liệu giản dị đó, đã có khoảng 10 kiểu dáng cơ bản như: đèn tròn, đèn củ tỏi, đèn bánh ú... Khác với những nơi khác, đèn lồng Hội An làm thủ công từ tre tự nhiên, bền chắc, không ngâm tẩm hóa chất. Đặc biệt, du khách quốc tế ưa chuộng đèn lồng trơn màu trắng tinh, cũng như họa tiết cô gái mặc áo dài hay hình ảnh phố cổ.
Để cho ra đời những chiếc đèn lồng, cần phải trải qua nhiều công đoạn. Mỗi công đoạn đều đòi hỏi sự tỉ mỉ, khéo léo và kiên nhẫn của người thợ. Dù là đơn đặt hàng lẻ hay sỉ, suốt mấy chục năm nay, xưởng của gia đình cụ Ba vẫn duy trì cách làm thủ công. Mỗi người thợ đảm nhận từng khâu theo mô hình dây chuyền sản xuất, nhờ đó mà thời gian để làm ra một chiếc đèn lồng cũng nhanh hơn.
Tre là nguyên liệu để tạo nên khung của đèn lồng. Muốn khung vừa dẻo dai, vừa chắc chắn thì phải chọn những cây tre già hoặc phải ít nhất 3 năm tuổi trở lên. Khi đưa về, tre cần được luộc qua để tránh bị mối mọt và làm dẻo tre.
Sau đó mới bắt đầu chẻ thành nan mỏng, khoan lỗ ở hai đầu rồi xỏ dây thép. Mỗi chiếc đèn cần 12 nan, được xếp đều trên khuôn. Sau khi định hình trên khuôn, người thợ sẽ bọc vải lụa và trang trí họa tiết để tăng thêm phần sặc sỡ cho đèn lồng.
Mang đèn lồng ra thế giới
Nhận thấy sự thích thú của du khách đối với “đứa con” đặc biệt của mình, cụ Huỳnh Văn Ba đã mở thêm lớp dạy trải nghiệm cho khách tham quan mỗi khi ghé thăm cơ sở làm đèn lồng. Nhờ vậy mà khách du lịch có thêm trải nghiệm đáng nhớ cùng với món đồ lưu niệm - chiếc đèn lồng do chính họ tự tay làm ra.
Với cụ Ba, mỗi chiếc đèn lồng không chỉ là một món hàng mà còn là linh hồn của Hội An. Để giữ cho sản phẩm văn hoá này có thể tồn tại giữa nhịp sống hiện đại, hiện diện trong trái tim của du khách thì cần phải làm mới mẫu mã, tìm hiểu sở thích của họ. Nhưng trong mỗi đổi thay ấy, vẫn có một nguyên tắc không thay đổi, như cụ tâm nguyện, đó là “làm ăn đàng hoàng, chất lượng bền đẹp, không vì lợi nhuận mà đánh mất giá trị của đèn lồng”.
“Đèn lồng Hội An với tôi không chỉ là sản phẩm mưu sinh, mà là cả một đời tâm huyết. Du khách khen đẹp và ưa chuộng, chính quyền ủng hộ, lại tạo công ăn việc làm cho bà con đó là niềm vui lớn nhất. Danh hiệu ấy là vinh dự, nhưng cũng nhắc tôi phải tiếp tục sáng tạo”. Nghệ nhân ưu tú Huỳnh Văn Ba (93 tuổi)
Đó cũng là những điều mà cụ luôn dặn dò người con trai kế tục nghề của gia đình là ông Huỳnh Văn Trung, 60 tuổi.
Tiếp nối nghề của cha để lại, giữa làng nghề giàu truyền thống, ông Trung vẫn đang gìn giữ ngọn lửa nghề bằng đôi bàn tay và tình yêu dành cho di sản quê hương. Có lẽ nhờ vậy mà cho đến hiện tại, những chiếc đèn lồng được làm thủ công vẫn được du khách ưa chuộng.
“Được mọi người cũng như khách hàng nước ngoài chấp nhận và cho nó là đẹp, đó cũng là thành quả mới cho đồ thủ công mỹ nghệ của Việt Nam”, cụ Ba nói.
Hiện nay, dù đã giao xưởng cho con quản lý, nhưng mỗi ngày, người nghệ nhân 93 tuổi vẫn miệt mài trao gửi tình yêu phố Hội vào từng nan tre, nét vẽ trên tấm lụa bọc đèn. Không chỉ vậy, cụ còn tiếp tục nghiên cứu để sáng tạo thêm nhiều mẫu mã mới.
Năm 2010, cụ Ba được trao tặng danh hiệu Nghệ nhân ưu tú vì những đóng góp nổi bật trong việc sáng tạo và phát triển nghề làm đèn lồng. Hiện cụ vẫn ấp ủ ý tưởng xây dựng không gian trưng bày các sản phẩm mây tre truyền thống cho du khách tham quan.