“Bảo tàng sống” bên dòng lỵ sở xưa
Làng cổ Đông Hòa Hiệp (xã Cái Bè, Đồng Tháp) nép mình bên những dòng kênh rạch chằng chịt, ẩn sau những vườn cây ăn trái sum suê trĩu quả. Những “biệt thự cổ” ngói đỏ phủ rêu phong, vách gỗ lên nước đen bóng.
Bên trong những nếp nhà trăm tuổi ấy là cả một kho tàng văn hóa nghệ thuật. Những ngôi nhà cổ này do con cháu nhiều đời, họ gìn giữ, chăm sóc và quản lý, khai thác du lịch đến tận hôm nay.
Vào năm 1732, dưới thời Chúa Nguyễn, giai đoạn công cuộc mở cõi, xác lập và quản lý vùng đất phương Nam được đẩy mạnh.
Khi đó, Dinh Phiên Trấn đã quyết định thiết lập một đơn vị hành chính mới mang tên Dinh Long Hồ. Vị trí được chọn làm lỵ sở đầu tiên chính là thôn An Bình Đông, thuộc xã Đông Hòa Hiệp ngày nay (giờ sáp nhập thành xã Cái Bè).
Dù chỉ giữ vai trò thủ phủ hành chính trong vòng 25 năm ngắn ngủi trước khi dời về Vĩnh Long vào năm 1757, nhưng khoảng thời gian vàng son này đã kịp đặt nền móng kinh tế, giao thương vững chắc, biến nơi đây thành đất đặt chân của những dòng họ giàu có, phong lưu bậc nhất vùng.
Trải qua hơn 300 năm với bao thăng trầm, hiện Làng cổ Đông Hòa Hiệp còn lưu giữ được 9 ngôi nhà cổ có niên đại từ 150 đến 220 năm, và 29 ngôi nhà được xây dựng cách nay từ 80 đến 100 năm. Năm 2017, Làng cổ Đông Hòa Hiệp đón nhận được xếp hạng di tích cấp quốc gia.
Sức sống từ nếp nhà 108 cây cột gỗ
Tháng 5/2026, phóng viên Tiền Phong tìm đến ngôi nhà cổ dòng họ Trần, có tuổi đời trên 150 năm, của gia đình ông Trần Tuấn Kiệt. Đây là một trong những công trình kiến trúc nghệ thuật quý hiếm được Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) tài trợ kinh phí trùng tu năm 2003.
Bà Lê Thị Chính, vợ ông Trần Tuấn Kiệt, người con đời thứ 6 của dòng họ hiện đang trực tiếp sinh sống, gìn giữ và khai thác du lịch từ căn nhà. Bà Chính trực tiếp làm hướng dẫn viên dẫn chúng tôi tham quan không gian kiến trúc độc đáo độc nhất vô nhị này.
Căn nhà được dựng hoàn toàn bằng các loại gỗ quý vào năm 1838, cấu trúc mang đậm dấu ấn giao thoa giữa nếp nhà đồng bằng Bắc Bộ kết hợp phong cách Nam Bộ, với kiểu nhà chữ Đinh, ba gian hai chái rộng gần 1.000 m2. Toàn bộ sức nặng của mái ngói âm dương đổ xuống hệ thống khung sườn khổng lồ gồm 108 cây cột gỗ quý tròn xoe, vững chãi.
Bà Chính cho hay: “Trên 90% lượng khách đến tham quan nhà cổ là người nước ngoài. Khách đi theo mùa, từ tháng 5 đến tháng 9 là mùa thấp điểm; còn từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau là cao điểm. Lúc đó, trung bình mỗi ngày gia đình đón tiếp trên 100 lượt khách quốc tế ra vào”. Hễ xuất hiện vết mối mọt hay hư hỏng nhỏ nào, vợ chồng ông Kiệt, bà Chính lại tự tay sửa chữa, không để di sản quý giá bị xuống cấp.
Rời nhà họ Trần, chúng tôi tìm đến ngôi nhà cổ của ông Võ Văn Võ. Căn nhà này được khởi công xây dựng từ năm 1929 và phải mất hai năm, đến năm 1931 mới hoàn thành.
Trải qua 4 đời tiếp quản, ngôi nhà diện tích 380 m2 vẫn giữ vẹn nguyên kiến trúc chữ Đinh, theo kiểu nhà rường xiên trính, nâng đỡ bởi 54 cột gỗ tròn, được kê trên những tảng đá xanh.
Ngay cửa chính, tấm biển đại tự lớn khắc ba chữ “Hiển Nhạc Đường” sơn son thếp vàng lấp lánh, như nhắc nhở con cháu giữ gìn gia phong.
Cụ Võ Thị Ánh (80 tuổi), hậu duệ đời thứ 4 đang trông nom ngôi nhà, giọng cụ run run: “Gia đình tôi xưa nay mở cửa đón khách tham quan hoàn toàn miễn phí. Nhà chỉ kiếm thêm thu nhập từ việc nấu nướng, phục vụ các món ăn đậm chất miền Tây khi du khách có nhu cầu đặt trước”.
Kiệt tác chạm khắc
Xuôi dòng sông Tiền sang đất Bến Tre, chúng tôi đến xã Đại Điền, huyện Thạnh Phú cũ, nay là tỉnh Vĩnh Long để chiêm ngưỡng một kiệt tác kiến trúc gỗ khác là Nhà cổ Huỳnh Phủ (hay còn gọi là nhà Hương Liêm).
Căn nhà được xây dựng vào cuối thế kỷ 19 (kéo dài suốt 14 năm từ 1890 đến 1904), đây được xem là một trong những công trình nghệ thuật chạm khắc gỗ độc đáo, tinh xảo bậc nhất vùng đồng bằng sông nước Nam Bộ, đã được xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia vào năm 2011.
Ngôi nhà cất theo kiểu xuyên trình hình chữ Nhất, ba gian hai chái bề thế, với diện tích nhà chính lên đến hơn 520 m2. Toàn bộ hệ thống cột kèo làm bằng gỗ lim và căm xe quý hiếm, đen bóng theo thời gian.
Trên các vách lụa, cột chính chạm trổ tinh vi, cẩn chữ Nho và hoa văn bằng ốc xà cừ lấp lánh ngũ sắc, thể hiện các điển tích cổ như bát bửu, tứ linh, tứ quý, sen hạc... Nổi bật của căn nhà nằm ở phần thờ tự phía trước trang trọng nhất, từng thớ gỗ đều được những người thợ tài hoa chạm trổ tỉ mỉ, sơn son thếp vàng lộng lẫy.
Đặc biệt, mái nhà lợp ngói âm dương cao cấp, trên mỗi miếng ngói nguyên bản đều có in nổi những bức tranh sinh hoạt dân gian gần gũi, như mục đồng chăn trâu thổi sáo, con gà, con cua, bó lúa... Rất tiếc, qua nhiều biến động và các đợt sửa chữa, số ngói độc đáo này bị thất lạc nhiều.
Ngôi nhà hiện do vợ chồng ông Huỳnh Ngọc Thu hậu duệ đời thứ 6 của cụ Hương Liêm trông nom. Mỗi tháng, ông bà được nhà nước hỗ trợ kinh phí bảo tồn 1,2 triệu đồng.
Cụ Hương Liêm tên thật là Huỳnh Ngọc Khiêm (1843-1927), gốc miền Trung, trên đường tìm nơi sinh cơ lập nghiệp bằng đường thủy đã đến Bến Tre và dừng chân ở làng Đại Điền. Nhờ có sức khỏe, trí thông minh và sự nhanh nhẹn, cần cù, siêng năng, tính toán, ông dần trở nên giàu có, mua thêm ruộng đất xung quanh và xây dựng cơ ngơi. Ông trở thành một trong những người giàu có nhất trong vùng lúc bấy giờ.
Để làm được ngôi nhà với kiến trúc và nghệ thuật chạm trổ độc đáo, chủ nhân đã rất vất vả tìm và mời cho bằng được những người thợ tài hoa từ miền Bắc lưu tán vào Nam.