Dư nợ tín dụng toàn hệ thống ngân hàng đạt gần 19,5 triệu tỷ đồng

TPO - Tính đến ngày 28/4, dư nợ tín dụng toàn hệ thống ngân hàng đạt gần 19,5 triệu tỷ đồng, tăng 4,42% so với cuối năm 2025 và tăng 18,26% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng tín dụng tiếp tục vượt xa tốc độ huy động vốn, khiến quy mô huy động thấp hơn dư nợ tín dụng khoảng 2 triệu tỷ đồng.

Tại Toạ đàm "Vai trò của ngành Ngân hàng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế" ngày 8/5, bà Phạm Thị Thanh Tùng - Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, Ngân hàng Nhà nước - cho biết, cơ cấu tín dụng hiện tương đối phù hợp với cơ cấu nền kinh tế. Trong đó, tín dụng lĩnh vực nông nghiệp chiếm khoảng 6%, công nghiệp và xây dựng chiếm 23,5%, còn dịch vụ chiếm khoảng 70,5%.

Đáng chú ý, tín dụng đối với các lĩnh vực ưu tiên tiếp tục được định hướng mở rộng. Dư nợ cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn đạt khoảng 4,3 triệu tỷ đồng, tương đương 22,2% tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Tín dụng dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt gần 3,8 triệu tỷ đồng, chiếm khoảng 20%.

Một số lĩnh vực có tốc độ tăng trưởng tín dụng cao trong quý I/2026 gồm xuất khẩu và doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao, với mức tăng lần lượt 11,2% và 18,81%.

tien.jpg
Tính đến ngày 28/4/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống ngân hàng đạt trên 19,4 triệu tỷ đồng.

“Cùng với các nguồn vốn khác, tín dụng ngân hàng đã cung cấp nguồn tài chính thiết yếu để triển khai nhiều dự án, công trình trọng điểm, góp phần thực hiện đột phá chiến lược về phát triển hạ tầng”, bà Tùng nhấn mạnh.

Tuy nhiên, ngành ngân hàng đang đối mặt với nhiều áp lực lớn trong bối cảnh kinh tế toàn cầu biến động mạnh. Các yếu tố như chiến tranh thương mại, chính sách thuế đối ứng, gián đoạn chuỗi cung ứng, xung đột địa chính trị hay chi phí vận tải và năng lượng leo thang đều tác động trực tiếp đến hoạt động tín dụng.

Một thách thức lớn khác là nền kinh tế vẫn phụ thuộc nhiều vào vốn ngân hàng. Theo bà Tùng, tỷ lệ tín dụng/GDP năm 2025 ở mức khoảng 145%, trong khi thị trường vốn phát triển chưa tương xứng. Trong bối cảnh đó, các tổ chức tín dụng phải đối mặt với rủi ro kỳ hạn khi nguồn vốn huy động bằng Việt Nam đồng chủ yếu là ngắn hạn, chiếm khoảng 80%, nhưng nhu cầu vay trung và dài hạn lại rất lớn.

Đáng chú ý, nhu cầu vốn cho tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn tới được dự báo rất cao. Theo số liệu của Bộ Tài chính, tổng nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2026-2031 ước khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, riêng năm 2026 khoảng 5,1 triệu tỷ đồng. Trong đó, nhu cầu vốn tín dụng dự kiến khoảng 1,8 triệu tỷ đồng, phù hợp với mục tiêu tăng trưởng tín dụng khoảng 15% mà Ngân hàng Nhà nước đặt ra.

Tính đến ngày 28/4, dư nợ tín dụng toàn hệ thống ngân hàng đạt gần 19,5 triệu tỷ đồng, tăng 4,42% so với cuối năm 2025 và tăng 18,26% so với cùng kỳ năm trước.

Dù vậy, việc huy động nguồn lực để đáp ứng nhu cầu tín dụng này đang là bài toán khó. “Thời gian qua, tốc độ tăng trưởng huy động vốn luôn thấp hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng. Quy mô huy động vốn bằng Việt Nam đồng hiện thấp hơn quy mô tín dụng khoảng 2 triệu tỷ đồng”, bà Tùng cho biết.

Theo đánh giá của cơ quan quản lý, điều này cho thấy tăng trưởng tín dụng đang vượt khả năng huy động vốn của các tổ chức tín dụng, khiến áp lực tạo lập nguồn vốn ngày càng gia tăng.

Để hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững, Ngân hàng Nhà nước cho biết, sẽ tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý liên quan đến hoạt động tín dụng, điều hành tín dụng linh hoạt theo diễn biến kinh tế vĩ mô, đồng thời ưu tiên vốn cho sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các dự án trọng điểm.

Ngân hàng Nhà nước cũng sẽ tiếp tục theo dõi sát diễn biến kinh tế trong và ngoài nước để kịp thời tháo gỡ khó khăn phát sinh, đảm bảo dòng vốn tín dụng được phân bổ hiệu quả và an toàn cho nền kinh tế.