Hơn 20 năm làm chủ kỹ thuật ghép tạng trẻ em
Đối với trẻ mắc bệnh lý suy tạng giai đoạn cuối, ghép tạng có thể trở thành cơ hội sống cuối cùng khi các phương pháp điều trị khác không còn mang lại hiệu quả như mong muốn. Ghép thận được chỉ định cho những trường hợp suy thận giai đoạn cuối, dị tật bẩm sinh ở thận hoặc đường tiết niệu và một số bệnh lý cầu thận. Trong khi đó, ghép gan có thể giúp điều trị nhiều bệnh lý nghiêm trọng như teo đường mật bẩm sinh, các bệnh gây ứ mật tiến triển, rối loạn chuyển hóa, suy gan cấp hoặc một số khối u ác tính tại gan.
Tuy nhiên, ghép tạng nhi khoa là lĩnh vực có độ phức tạp cao, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa nhiều chuyên khoa. Cấu trúc giải phẫu của trẻ nhỏ khiến việc kết nối mạch máu và các ống dẫn trở nên khó khăn, trong khi thể trạng suy kiệt, suy dinh dưỡng và sức đề kháng suy giảm ở những bệnh nhi mắc bệnh mạn tính làm tăng nguy cơ biến chứng trong và sau phẫu thuật.
Ngay cả lượng máu mất đi không lớn cũng có thể gây hậu quả nghiêm trọng đối với trẻ nhỏ. Vì vậy, hiệu quả ghép tạng không chỉ phụ thuộc vào kỹ thuật phẫu thuật mà còn đòi hỏi quá trình đánh giá, chuẩn bị trước mổ, gây mê hồi sức, chăm sóc sau ghép và theo dõi lâu dài.
Tại Việt Nam, Bệnh viện Nhi Trung ương là một trong những đơn vị sớm triển khai ghép tạng cho trẻ em. Năm 2005, bệnh viện thực hiện ghép gan từ người cho sống, trở thành cơ sở thứ hai trên cả nước triển khai kỹ thuật này. Thành công khi đó mở ra hướng điều trị mới cho những trẻ mắc bệnh gan nặng, trước đây có ít cơ hội sống.
Trong quá trình phát triển, bệnh viện từng bước hoàn thiện quy trình tuyển chọn người nhận, người hiến, phẫu thuật và chăm sóc sau ghép. Với ghép thận, các bác sĩ đã làm chủ quy trình kỹ thuật, đồng thời ứng dụng những tiến bộ trong phẫu thuật, trong đó có lấy thận ghép qua nội soi.
Để phát triển lĩnh vực này, bệnh viện đầu tư hệ thống phòng mổ hiện đại, trang thiết bị phẫu thuật và các phương tiện chẩn đoán hình ảnh, xét nghiệm. Đội ngũ bác sĩ, kỹ thuật viên được đào tạo trong và ngoài nước, thường xuyên cập nhật kiến thức chuyên môn. Quá trình phát triển ghép tạng cũng thúc đẩy năng lực của nhiều chuyên ngành liên quan như thận học, tiết niệu, gan mật, gây mê hồi sức, chẩn đoán hình ảnh, huyết học và miễn dịch.
Theo số liệu được bệnh viện cung cấp, trong giai đoạn 2005-2021, đơn vị đã thực hiện thành công 20 cặp ghép gan và hơn 40 cặp ghép thận. Đến tháng 5/2026, Bệnh viện Nhi Trung ương đã thực hiện thành công 100 ca ghép gan trẻ em, trở thành đơn vị có số lượng ca ghép gan nhi khoa lớn nhất cả nước.
Những kết quả này không chỉ thể hiện sự tiến bộ về chuyên môn mà còn mở ra cơ hội sống cho nhiều trẻ mắc bệnh lý gan, thận giai đoạn cuối. Với các bệnh nhi được ghép tạng thành công, cơ hội trở lại cuộc sống và sinh hoạt bình thường trở nên rõ ràng hơn.
Khan hiếm nguồn tạng hiến, nhiều trẻ vẫn chờ cơ hội sống
Dù kỹ thuật ghép tạng ngày càng phát triển, nguồn tạng hiến phù hợp vẫn là thách thức lớn, đặc biệt đối với bệnh nhi. Ghép tạng có thể được thực hiện từ người hiến sống hoặc người hiến chết não. Với trẻ em, một phần cơ quan từ người thân có thể phù hợp để ghép, nhưng nguồn tạng từ người hiến chết não vẫn còn hạn chế.
Thực tế này khiến nhiều bệnh nhi phải chờ đợi trong khi bệnh lý tiếp tục diễn tiến, làm giảm cơ hội được cứu sống. Theo GS.TS Trần Minh Điển, Giám đốc Bệnh viện Nhi Trung ương, sau hơn 20 năm phát triển, bệnh viện đã làm chủ quy trình ghép gan và ghép thận. Tuy nhiên, việc mở rộng ghép tạng từ người hiến chết não vẫn là vấn đề cần được quan tâm.
“Đến nay chúng tôi đã làm chủ toàn bộ quy trình ghép gan. Tuy nhiên, vấn đề phát triển ghép gan từ người cho chết não vẫn là điều chúng tôi còn rất trăn trở. Đây là hướng đi quan trọng để tăng cơ hội cứu sống người bệnh, đồng thời giảm những nguy cơ đối với người hiến sống”, GS.TS Trần Minh Điển chia sẻ.
Theo ông, phần lớn các ca ghép gan, ghép thận trẻ em hiện nay vẫn sử dụng nguồn tạng từ người cho sống. Trong khi đó, nhu cầu ghép tạng ngày càng lớn, còn số ca ghép từ người hiến chết não ở trẻ em rất hạn chế.
Đáng chú ý, danh sách bệnh nhi chờ ghép gan cấp cứu tại Bệnh viện Nhi Trung ương luôn ở mức cao, với hơn 50 trường hợp đang cần được can thiệp khẩn cấp. Với những bệnh nhi này, thời gian chờ đợi có thể ảnh hưởng trực tiếp đến cơ hội sống.
GS.TS Trần Minh Điển cho rằng việc tăng cường phối hợp giữa các bệnh viện, đặc biệt trong điều phối và phát triển nguồn tạng hiến từ người chết não, có ý nghĩa quan trọng đối với cơ hội điều trị của trẻ mắc bệnh gan, thận giai đoạn cuối.
Hợp tác liên viện, hướng tới ghép tim, phổi và ruột cho trẻ em
Ngày 4/6/2026, Bệnh viện Nhi Trung ương và Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức ký kết biên bản ghi nhớ hợp tác chuyên môn về ghép tạng. Sự kết nối giữa bệnh viện chuyên khoa nhi tuyến cuối và một trong những trung tâm ghép tạng hàng đầu cả nước được kỳ vọng tạo cơ chế phối hợp đồng bộ trong đánh giá chỉ định ghép, điều phối nguồn tạng, chuyển tuyến và triển khai kỹ thuật.
Thông qua hợp tác, hai bệnh viện hướng tới sử dụng hiệu quả nguồn tạng hiến, bảo đảm tạng được điều phối kịp thời, phù hợp với người bệnh. Các hoạt động đào tạo nhân lực, chuyển giao kỹ thuật, hội chẩn liên viện và nghiên cứu khoa học cũng được xác định là những nội dung quan trọng nhằm phát triển bền vững ghép tạng nhi khoa.
PGS.TS Dương Đức Hùng, Giám đốc Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, khẳng định chương trình hợp tác không chỉ dừng lại ở hoạt động ghép tạng mà còn mở ra cơ hội phát triển chuyên môn thông qua đào tạo, chuyển giao kỹ thuật, hội chẩn và xây dựng các quy trình phối hợp chuyên sâu. Đây là nền tảng để nâng cao chất lượng điều trị, từng bước tiếp cận các tiêu chuẩn quốc tế.
Từ những thành tựu trong ghép gan, ghép thận, Bệnh viện Nhi Trung ương đang hướng tới phát triển thêm các kỹ thuật ghép tim, phổi và ruột cho trẻ em.
Theo GS.TS Trần Minh Điển, bệnh viện hiện có cơ sở vật chất, phòng mổ, trang thiết bị và nguồn nhân lực phục vụ phẫu thuật tim. Các bác sĩ tim mạch của bệnh viện thực hiện hàng nghìn ca phẫu thuật tim mỗi năm. Để triển khai ghép tim, bệnh viện cần tiếp tục chuẩn hóa quy trình kỹ thuật và tiếp nhận chuyển giao chuyên môn từ Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức.
“Chúng tôi kỳ vọng từ nay đến cuối năm có thể hoàn thiện các bước cần thiết để triển khai ghép tim cho trẻ em”, GS.TS Trần Minh Điển bày tỏ.
Trong giai đoạn tiếp theo, hai bệnh viện sẽ tiếp tục xây dựng đội ngũ, hoàn thiện hạ tầng để hướng tới ghép phổi cho trẻ em, đồng thời nghiên cứu phát triển ghép ruột cho những trường hợp mắc hội chứng ruột ngắn và các bệnh lý phức tạp khác.
Giám đốc Bệnh viện Nhi Trung ương nhấn mạnh việc triển khai các kỹ thuật ghép tạng chuyên sâu sẽ mở rộng cơ hội điều trị cho trẻ mắc bệnh nặng, đồng thời giảm gánh nặng cho gia đình người bệnh.
Từ những ca ghép gan, ghép thận đã được thực hiện thành công đến mục tiêu phát triển các kỹ thuật ghép tạng phức tạp hơn, hành trình của ngành ghép tạng nhi khoa không chỉ là câu chuyện về tiến bộ y học. Đó còn là nỗ lực phối hợp giữa các bệnh viện, đầu tư cho nhân lực và trang thiết bị, cùng yêu cầu cấp thiết phải phát triển nguồn tạng hiến. Khi những điều kiện này được củng cố, thêm nhiều trẻ mắc bệnh lý suy tạng giai đoạn cuối sẽ có cơ hội được điều trị và tiếp tục cuộc sống.