Vị 'chúa đảo' Hòn Đỏ

Vị 'chúa đảo' Hòn Đỏ
TP - Hòn đảo nhỏ xinh xắn và thơ mộng có tên Hòn Đỏ nằm phía đông bắc thành phố Nha Trang, cách đất liền khoảng 500 m. Đảo nhỏ nhưng cảnh trí tuyệt đẹp.
Đường lên Hòn Đỏ
Đường lên Hòn Đỏ              

Mấy ai biết rằng vài chục năm trước, nơi này chỉ là một hòn đảo hoang vắng, khô cằn đầy gai góc. Có một người đã cống hiến tất cả sức lực và tuổi trẻ, đằng đẵng suốt 40 năm lao động quần quật, biến đảo hoang thành một địa điểm xanh mát rượi như hôm nay.

Đó là sa môn Thích Viên Mãn, người mà trong tác phẩm cùng tên(*), nhà văn Quách Giao đã gọi là “Người gánh nắng”. Tôi lại muốn gọi ông là vị “chúa đảo” Hòn Đỏ này.

Tên gọi của đảo hình thành từ sắc đỏ của đá nơi này. Những buổi hoàng hôn, khi những tia nắng cuối ngày chiếu vào đảo, sắc đá ánh lên một màu đỏ rực kỳ ảo.

Giữa sắc biển xanh bao la màu ngọc bích, Hòn Đỏ nổi lên như một viên ngọc xanh lá cây dưới nền trời xanh hòa bình, đẹp như một bức tranh thủy mặc.

Những con sóng trắng xóa ngày đêm tấp vào bờ, tung lên những vồng hoa trắng bạc lấp lánh nắng. Cùng với Hòn Chồng, Hòn Rùa, Hòn Tre, Hòn Miễu… Hòn Đỏ như một nét son mới, tô điểm thành phố Nha Trang thêm mỹ lệ.

Nấp mình dưới những tán cây rậm rạp là ngôi chùa nhỏ: chùa Từ Tôn. Ngôi Tam Bảo trang nghiêm và ấm áp. Tượng Quan Thế Âm Bồ Tát trên Nghênh Phong Đài, mặt hướng về phương Đông, hiền lành và từ bi. Vườn tượng “Lâm Tì Ni” với 13 bông sen, diễn tả huyền thoại khi Đức Phật ra đời đã biết đi, mỗi bước để lại một bông sen dưới chân ngài.

Ngoài ra, trên đảo còn có quần cảnh tượng Đức Quan Âm với đồng tử có rồng nghinh bái, có đỉnh hương lớn với những bậc thang xây bằng đá xuống sát mé biển, có hang Tản Đà (nơi nhà thơ ngồi ngắm biển làm thơ), có những tảng đá hình thù kỳ lạ như hòn Em, hòn Chị, hòn Trắp (có hình cái trắp đựng sách ), hòn Bàn cờ (nơi ngày xưa các tiên ông thường xuống đánh cờ), hòn Ấn với dấu ấn là ngón tay cái của ông Khổng lồ v.v…

Khắp đảo là những vườn hoa rực rỡ sắc màu, những tàng cây cổ thụ râm mát và ríu rít tiếng chim ca.

Vào một buổi sáng đẹp trời, chúng tôi “vượt biển” sang Hòn Đỏ. Từ đường Phạm Văn Đồng, sau vài chục phút ngồi đò, chúng tôi có mặt trên Hòn Đỏ. “Chúa đảo”, nhà sư Thích Viên Mãn vui vẻ ra đón khách.

Đã bước vào tuổi 80, nhưng nhìn ông còn rất khỏe mạnh, dù những năm tháng lao động nhọc nhằn vẫn in dấu trên nước da sạm nắng và hai bàn tay chai sạn. Dáng người nhỏ nhắn, bước đi nhanh nhẹn, cách nói chuyện linh hoạt và nụ cười rộng mở, ông sang sảng kể lại công cuộc khai phá đảo hoang…

“Chúa đảo”– Nhà sư Thích Viên Mãn
 “Chúa đảo”– Nhà sư Thích Viên Mãn

Cuộc chiến với thiên nhiên

Ngày ấy, trên Hòn Đỏ không có nước nên không có cây mà chỉ có đá. Đá, lổn nhổn, trải dài, phơi mình dưới nắng gắt. Mặt trời nung những phiến đá nóng bỏng khiến cả không gian trên đảo hừng hực nóng.

Từ đất liền, nhà sư trẻ Thích Viên Mãn dùng một con thuyền nhỏ chở nước và lương thực ra đảo, che tạm một mái lều, bắt đầu cuộc chiến cật lực với thiên nhiên khắc nghiệt.

Công việc đầu tiên của ông là nhặt đá, giải phóng mặt bằng. Những hòn đá nhỏ được gom lại một chỗ. Những tảng đá lớn thì dùng xà beng hoặc cuốc chim trục lên rồi dùng đòn xeo lăn xuống biển… Cứ thế, lầm lũi một mình, suốt 5 năm liền, ông quần quật dời đá, để có một khoảng đất bằng phẳng trên đỉnh Hòn Đỏ như bây giờ.

Việc dời đá song song với việc đắp nền cho khu đất để dựng chùa. Những viên đá nhỏ được dùng để làm nền khu Phật đàn, với kết cấu một lớp đá xen kẽ một lớp đất. Những đêm có trăng, ông tranh thủ khuân đá đắp kệ, bậc tam cấp, làm một con đường lên xuống đảo.

Công việc tiếp theo là phát quang. Dưới cái nắng như lửa đổ, trên đảo chỉ có gai mắt mèo um tùm trong các kẽ đá. Bên dưới gai mắt mèo là gai mắc cỡ. Sư Viên Mãn dùng cuốc dẹp gai bên trên rồi dùng cuốc dọn cây bên dưới.

Cật lực suốt mấy ngày mới xong một khoảnh nhỏ. Gai góc được ông chặt nhỏ phơi khô rồi đốt thành than, bỏ vào các hố đào sẵn, chuẩn bị trồng cây. Hai  bàn tay chai sạn vì vần đá, rướm máu vì gai cào. Khắp người da bong loang lổ, miệng khô rộp, phồng lên từng mảng, lưng đau nhức, bỏng rát vì nắng xối.

Lao động nặng nhọc là vậy nhưng do lương thực thiếu thốn nên sư Viên Mãn chỉ ăn mỗi ngày một bữa, đúng vào giờ ngọ. Có những ngày sóng to biển động, đảo bị cô lập nên ông phải ăn rong mọc nơi mép đá ven bờ như rong câu, rong mứt, rong chân vịt v.v...

Rong biển có mùi tanh. Vị vừa nhạt, vừa đắng vừa chát. Vậy mà, suốt nhiều năm sống trên đảo, ông vẫn duy trì chế độ ăn rong mỗi tuần hai lần để giảm thiểu việc tổn hao lương thực.

“-Có bao giờ thầy cảm thấy chán nản và nghĩ đến bỏ cuộc không?”- Tôi hỏi. Ông cười to, đưa tay ra trước: “Không bao giờ ! Càng cực thì lại càng cố! Để coi mình thắng nó hay nó thắng mình !”.

Sau nhiều ngày cật lực, nền chùa khoảng 25 mét vuông đã hình thành. Mặt nền phủ một lớp đá cuội lượm nơi bãi biển khi nước thủy triều xuống thấp. Đá xây móng được chẻ ra từ những tảng đá to thành từng phiến vuông vức và xếp chồng sít lên nhau để không phải dùng vữa. Cùng với 8 trụ tre, một ngôi chùa nhỏ được dựng lên, đơn sơ nhưng ấm áp, trang nghiêm.

“Dời” đất và nước

Gian lao nhất trong công cuộc chinh phục Hòn Đỏ là vận chuyển nước từ đất liền sang. Dưới cái nắng như thiêu đốt, sư Viên Mãn phải gánh nước từ bến lên đỉnh. Đoạn đường chỉ dài khoảng nửa cây số nhưng cheo leo hiểm trở đầy đá nhọn và gai sắc.

Hai thùng nước trên vai, một tay ông cầm gậy chống, tay kia giữ quai thùng, bàn chân trần đặt lên những phiến đá bỏng như than đỏ, lần từng bước, rón rén để nước không bị sánh, để thùng nước không bị va chạm với các vỉa đá nhấp nhô trên lối đi hẹp.

Không ít lần, khi sắp tới đỉnh, ông bị trượt bởi một viên sỏi vô tình, thế là lăn lông lốc xuống núi. Khắp người xây xát, tay chân bị cào rách, rướm máu, môi dập, đầu sưng... Những giọt nước vừa rơi xuống kêu đánh xèo đã lập tức bị đá hút sạch.

“- Tiếc lắm cô à ! Tiếc công gánh thì ít mà tiếc nước đổ thì nhiều!”. Giọng ông trầm trầm. Ánh mắt xa xăm…

Cứ thế, sư Viên Mãn đã cần mẫn gánh nước, gánh luôn cái nắng gay gắt của đảo suốt 10 năm liền, không một ngày ngơi nghỉ.

Một công việc cực nhọc khác là vận chuyển đất lên đảo. Đất được lấy từ các bãi đất hoang gần cầu sắt Ngọc Hội rồi chở bằng thuyền qua đảo rồi vác lên đỉnh.

Cũng cái nắng gay gắt như đổ lửa, cũng chân trần bước trên những phiến đá nóng như than đỏ, những bụi cây dại đầy gai nhọn… “- Nhưng vác đất đỡ cực hơn ! Bởi vì khi tui bị té, đất không bị mất hết như nước!”. Nụ cười hóm hỉnh khiến gương mặt ông chợt rạng rỡ. 

Từ đó,  những vườn rau mọc lên, xanh ngắt: rau cải, tần ô, cà chua, khoai mỡ, khoai tím, khoai lang, khoai mì… Ông vừa có rau ăn, vừa đưa về đất liền đổi gạo…

Sư Viên Mãn bắt đầu phủ bóng mát cho đảo bằng nhiều loài cây. Từng giọt nước chắt chiu tưới tắm, bón tỉa cùng rất nhiều công sức và mồ hôi… Giờ đây, cả Hòn Đỏ là một rừng cây lâu năm râm mát: xoài, bàng, nhãn, thông, phi lao…

Hai bên đường lên đỉnh, những hàng cây huyết giác, thiên tuế, hoa giấy, hoa đại xum xuê. Bên cạnh những gốc mai tứ quí, những giò phong lan lúc lỉu, những bụi cúc vàng rực… còn có một gốc bằng lăng cổ thụ tím ngát hoa, được trồng trong một cái thuyền thúng.

Ông giải thích, chậm rãi: “- Đây là cái thuyền mà ngày đó tôi dùng để chở đất và nước từ bờ sang đảo! Trồng cây để kỷ niệm. Còn thuyền thì được chùm rễ gắn kết nên không bị bục!”.

Từ lúc bắt đầu khai phá Hòn Đỏ, nhà sư Thích Viên Mãn đã mơ ước đào giếng để  khỏi phải chở nước từ đất liền. Ông bắt tay đào bằng cách nạy những viên đá trên bề mặt và lăn xuống biển. Song, đào xuống sâu, đá to và cứng mà không có dụng cụ, ông đành mướn thợ. Còn ông lo chuyển nước và lương thực sang phục vụ họ.

Ròng rã sáu tháng trời, giếng sâu tới 5 mét mà vẫn không gặp mạch. Toán thợ chịu thua rút về. Tuy vậy, vào mùa mưa, nước mưa  đọng lại trong giếng nên ông có nước dùng.

Ngày nay, dù nước đã được dẫn từ đất liền qua đảo, nhưng cái giếng đá ấy vẫn là minh chứng sống động cho nghị lực và lòng quyết tâm của con người trong cuộc chiến với thiên nhiên khắc nghiệt.

Cuối câu chuyện, tôi thành thật khen ông: “- Sao cực khổ vậy mà bác vẫn khỏe mạnh? Có bí quyết gì bày cho tụi cháu với !”. Ông cười ha hả: “-Thật ra, ngó tui vậy mà cũng không khỏe lắm đâu ! Thỉnh thoảng cũng có đau tay đau chân ! Già rồi mà !”. Ánh mắt lấp lánh và nụ cười tươi rói,  nhìn ông vẫn tràn trề sức sống. 

Lan man, tôi hỏi tiếp: “Sau này, bác được về “đất Phật”, ngôi vị “Chúa đảo” sẽ thuộc về ai ?”. Vị sư già hồn hậu : “Tôi chỉ mong sao tất cả mọi người có được một nơi yên tĩnh để nghỉ ngơi thư giãn, vậy thôi!”.

--------------------

(*) Người gánh nắng –Truyện ký của Quách Giao – Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2005.

Cùng chuyên mục

Bãi sậy sông Đầm là mái nhà yên bình của nhiều loài chim, trong đó có cả cò nhạn Ảnh: Đ.T

Về nơi đàn cò ở lại

TP - Có một nơi mà bao năm qua đàn cò hàng ngàn con chọn làm nhà, sáng chiều sải cánh tự do kiếm ăn, tối về ngủ bên rặng dừa mà chẳng mảy may lo bị bẫy bắt. Nơi ấy là bãi sậy sông Đầm (thuộc phường Bàn Thạch, thành phố Đà Nẵng).

Tượng đài Nguyễn Tất Thành – Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Trường Quốc học Huế Ảnh: QH Huế

130 năm trường Quốc học Huế: Ngôi trường của tuấn kiệt, anh thư

TP - Trong nhiều lần trò chuyện với thạc sĩ Sử học Nguyễn Đình Dũng, người từng dạy môn lịch sử ở Đại học Huế và cũng từng công tác tại Bảo tàng Hồ Chí Minh TP Huế, thường nghe anh nói rằng: “Trường Quốc học Huế là ngôi trường vĩ đại, là chiếc nôi đào tạo lớp lớp hiền tài đóng góp rất lớn cho lịch sử đất nước. Họ đích thực là những tuấn kiệt, anh thư. Trong đó có vai trò đặc biệt quan trọng của người học sinh Nguyễn Sinh Côn, sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại”.

Rắn độc và rừng hoang đã 'bỏ bùa' họ như thế đó

Rắn độc và rừng hoang đã 'bỏ bùa' họ như thế đó

TPO - Suốt nhiều năm, thỉnh thoảng tôi vẫn được những vị khách phương xa, trong đó có cả khách Âu - Mỹ, nhờ dẫn đến những khu nhà hàng đặc sản thịt rắn như Lệ Mật để “thử món lạ”. Có những nhà báo châu Âu quyết tâm trải nghiệm đến cùng, giá cả chẳng thành vấn đề, cứ như thể đã đặt chân đến Hà Nội mà chưa nếm thịt rắn thì chuyến đi vẫn còn thiếu một điều gì đó. Vậy mà, khi tận mắt thấy quả tim rắn vẫn còn đập trong chiếc cốc thủy tinh, bên cạnh là thứ tiết đỏ au được khuấy bằng một cọng sả trắng nõn, không ít người bỗng chốc đổi ý. Họ lịch sự xin phép được dừng lại ở mức “chiêm ngưỡng”, nhường phần “thưởng thức” cho những người can đảm hơn.

Ông Nguyễn Hồng Quang tỉ mỉ, chăm chút từng sản phẩm mới

Khắc khoải về làng gốm cổ Hương Canh

TP - Từng có gần 400 hộ làm nghề, gốm Hương Canh (xã Bình Nguyên, tỉnh Phú Thọ) nay chỉ còn 4 hộ bền bỉ giữ lửa cho nghề gốm cổ. Được tạo nên từ nguồn đất trầm tích đặc biệt của địa phương, dòng gốm sành không men nổi tiếng bởi độ bền chắc và sắc màu trầm mộc mạc đang đối mặt với những khó khăn về đầu ra và nguy cơ thiếu người kế nghiệp.

Anh Lưu Quang Hà bên sản phẩm bê tông nghệ thuật của Công ty

'Chúa chổm' xứ Tuyên đúc nên cơ nghiệp

TP - Lưu Quang Hà vừa rời giảng đường đại học, bước chân khởi nghiệp liền bị quỵt tiền, phải vay nặng lãi để sống. Ở nhà, bố mắc ung thư phổi, gia đình khánh kiệt, khiến anh Hà nhiều đêm bật khóc. Nhưng rồi, anh đứng dậy, gây dựng công ty chuyên làm sản phẩm bê tông nghệ thuật – ngành nghề mà anh được học, doanh thu tiền tỷ, tạo việc làm cho gần 20 lao động. Anh còn là Bí thư Chi đoàn ở tổ dân phố.

Công an cơ sở tuyên truyền, vận động người dân xóa bỏ hủ tục nghi kỵ “cầm đồ thuốc độc” Ảnh: NN

'Bóng ma đồ độc' ám ảnh vùng cao Quảng Ngãi

TP - Ở một số bản làng miền núi Quảng Ngãi, hủ tục nghi kỵ “cầm đồ thuốc độc” vẫn âm ỉ tồn tại, len vào những mâu thuẫn đời thường, những cơn bệnh chưa được lý giải bằng khoa học. Từ một lời phán của thầy cúng, hàng xóm có thể thành kẻ thù, người vô tội bị cô lập, đánh đập, thậm chí mất mạng.

Cán bộ Trạm Y tế xã Buôn Đôn đi bộ đến từng hộ dân tại buôn Đrăng Phốk để tiêm vắc xin cho trẻ

'Cõng' vắc xin tìm trẻ giữa đại ngàn

TP - Không để người dân vất vả đưa con đến trạm y tế, vào ngày 16 hằng tháng, cán bộ y tế xã vùng xa tỉnh Đắk Lắk vượt hơn 20km đường rừng đều đặn mang vắc xin vào tận buôn. Chuyến đi của họ đã mang thêm một lớp bảo vệ đến với những đứa trẻ nơi vùng lõi rừng, từng ngày rút ngắn giữa dịch vụ y tế và người dân.

Giếng cổ được người dân tự hào giới thiệu với khách đến thăm đảo

Bí ẩn giếng cổ ở xã đảo Đà Nẵng

TP - Giữa vùng biển đảo quanh năm nắng gió, nơi từng giọt nước ngọt quý hơn vàng, hai giếng cổ dưới chân núi Bàn Than ở Tam Hải vẫn trong veo, mát lành qua hàng trăm năm.

Cựu chiến binh Nguyễn Duy Kháng và cô giáo HươngẢnh: Lê Văn Chương

Những người lính ở lại núi Dàng-Bài cuối: Trái tim cô giáo trẻ dành trọn tiếng "tít te"

TP - Tháng 2/1970, bên dòng sông Vệ (Hành Thịnh, Quảng Ngãi), những chiếc HU-1A còn gọi là tàu rọ liên tục quần đảo, gầm rít trên bầu trời. Giữa khói lửa chiến tranh, trái tim một cô giáo trẻ lại bị cuốn vào âm thanh “tít te” không ngừng của một cậu lính thông tin quê Thái Bình. “Cái này bí mật, không thể giải thích” – chàng lính Nguyễn Duy Kháng mỉm cười nói với cô giáo Nguyễn Thị Thanh Hương về công việc của mình.

Cựu chiến binh Lại Vũ Yên và bà Nguyễn Thị Bè, mối tình và đám cưới trong chiến tranh, giờ đây đã hơn 50 năm Ảnh: Lê Văn Chương

Những người lính ở lại núi Dàng-Bài 2: Mối tình người lính quân y và nữ du kích

TP - Trước năm 1975, địch xem xã Hành Thịnh là một trong những cái gai rất khó nhổ. Bởi đây là một xã đồng bằng của Quảng Ngãi nhưng lại có rất nhiều ngọn núi: núi Dàng, núi Đuôi Chuột, núi Rố, núi Gò Đồn, núi và rừng Ông Đương, gò Rú. Địa thế hiểm trở vốn là lợi thế của quân giải phóng và là vùng đất chết đối với quân đội chính quyền Sài Gòn. Y sĩ Lại Vũ Yên đã trải qua những ngày gian nan tại đây, sau đó kết hôn với cô du kích…

 Ông Trương Minh Hải, Tổ trưởng Tổ cộng đồng bảo vệ nguồn lợi thủy sản phường Hồng Ngự chăm sóc đàn cá tự nhiên Ảnh: Hoà Hội

'Ngôi nhà' của đàn cá trên sông Tiền

TP - Xuất phát từ ý tưởng giữ cá lại với dòng sông, người dân vùng đầu nguồn Hồng Ngự (Đồng Tháp) đã biến đoạn bờ kè bình dị thành “bến đỗ an toàn” của đàn cá hàng nghìn con. Cá được cho ăn, bảo vệ và sinh trưởng tự nhiên. Mô hình độc đáo này không chỉ góp phần bảo vệ nguồn lợi thủy sản mà còn đánh thức tình yêu thiên nhiên trong cộng đồng.