Công nghiệp văn hóa đang được nhìn nhận là một động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, Việt Nam cần xác lập định nghĩa giữa văn hóa và công nghiệp văn hóa. Công nghiệp văn hóa có vốn hóa quy mô lớn đến từ sáng tạo nguyên bản (Innovation), khai thác sở hữu trí tuệ (IP), tạo được chuỗi giá trị đến từ nội dung số, mục tiêu xuất khẩu văn hóa toàn cầu để hình thành những doanh nghiệp có sức cạnh tranh toàn cầu.
Đây cũng là nội dung được ông Đinh Bá Thành trình bày tại Hội nghị sơ kết công tác văn hóa, thể thao và du lịch 6 tháng đầu năm, phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm các tháng cuối năm 2026 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Bộ VHTTDL), với sự hiện diện của Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh, nguyên Bộ trưởng Nguyễn Văn Hùng, các Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng, Tạ Quang Đông, Trịnh Thị Thủy, Phan Tâm, Hồ An Phong; cùng đại diện lãnh đạo các đơn vị thuộc Bộ VHTTDL và các tỉnh, thành phố.
Hội thảo được trực tuyến tới 34 điểm cầu tại các tỉnh, thành trên cả nước và 2 điểm cầu tại văn phòng đại diện của Bộ tại Đà Nẵng và TPHCM.
Từ bảo tồn văn hóa đến phát triển công nghiệp văn hóa
Tham luận của Chủ tịch sáng lập DatVietVAC có chủ đề Thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa, đóng góp vào tăng trưởng hai con số từ góc nhìn doanh nghiệp, đặt ra sự khác biệt giữa văn hóa và công nghiệp văn hóa - hai khái niệm có mối quan hệ mật thiết nhưng đảm nhiệm những sứ mệnh khác nhau trong sự phát triển của đất nước.
Giá trị văn hóa khi được chuyển hóa thành sản phẩm, dịch vụ và hệ sinh thái kinh doanh, không chỉ góp phần lan tỏa bản sắc Việt Nam mà còn tạo ra doanh thu, việc làm và năng lực cạnh tranh quốc gia.
Ông Đinh Bá Thành ví văn hóa là lĩnh vực cần được đầu tư để gìn giữ nền tảng của dân tộc. Trong khi đó, công nghiệp văn hóa có khả năng biến những giá trị văn hóa thành tiền của, doanh thu, tài sản và sức mạnh kinh tế.
Yếu tố quyết định giá trị của công nghiệp văn hóa nằm ở tài sản trí tuệ (IP). Một sản phẩm sáng tạo nếu chỉ dừng ở việc phát hành sẽ có vòng đời ngắn, nhưng nếu doanh nghiệp sở hữu IP và quyền khai thác, giá trị của sản phẩm có thể tiếp tục được mở rộng sang nhiều lĩnh vực khác nhau, từ đó hình thành hệ sinh thái kinh doanh với giá trị gia tăng cao.
Quan điểm này cũng được củng cố bằng nhận định của PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội: "Giá trị dài hạn nằm ở việc sở hữu ý tưởng gốc, nắm quyền khai thác, có thể mở rộng sản phẩm sang các thị trường khác, tạo ra được hệ sinh thái phái sinh từ một tài sản trí tuệ".
Khát vọng đưa văn hóa Việt ra thế giới
Để minh chứng cho tiềm năng của công nghiệp văn hóa, bài tham luận phân tích kinh nghiệm của Hàn Quốc - quốc gia được xem là hình mẫu trong việc biến văn hóa thành động lực phát triển kinh tế.
Nếu trước đây, Kpop, điện ảnh hay phim truyền hình Hàn Quốc chủ yếu được nhìn nhận như những sản phẩm giải trí, thì hiện nay, công nghiệp văn hóa nội dung K-Culture, như ngành công nghiệp bán dẫn, đã trở thành động lực phát triển mới và cốt lõi để thúc đẩy nền kinh tế Hàn Quốc.
Để đạt được vị thế đó, Hàn Quốc đã thực hiện đồng thời nhiều chuyển đổi quan trọng.
Trước hết là thay đổi cách con người tiếp cận sản phẩm văn hóa. Nếu trước đây, nội dung chỉ đơn thuần phục vụ nhu cầu giải trí, thì hiện nay các sản phẩm văn hóa đã trở thành một phần trong đời sống tiêu dùng toàn cầu. Người hâm mộ không chỉ xem phim, nghe nhạc hay theo dõi thần tượng mà còn tham gia vào cả một hệ sinh thái văn hóa, từ mua sắm, du lịch, thời trang, ẩm thực đến các hoạt động cộng đồng.
Song song với đó là việc ứng dụng mạnh mẽ công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) vào toàn bộ chuỗi giá trị nội dung. AI không chỉ hỗ trợ quá trình sáng tạo mà còn tham gia vào sản xuất, phân phối, phân tích hành vi khán giả và tối ưu hoạt động tiêu thụ nội dung trên quy mô toàn cầu.
Bước đi quan trọng khác là điều hướng các sản phẩm văn hóa sang nhiều lĩnh vực tiêu dùng khác nhau, qua đó tạo nên giá trị kinh tế lớn.
Thành công của Hàn Quốc cho thấy giá trị lớn nhất của công nghiệp văn hóa không nằm ở một bộ phim, một bài hát hay một buổi biểu diễn, mà ở khả năng biến một tài sản trí tuệ thành hệ sinh thái tiêu dùng có sức lan tỏa trên phạm vi toàn cầu.
Một trong những minh chứng rõ nét nhất cho mô hình này là HYBE - tập đoàn giải trí hàng đầu Hàn Quốc.
Được thành lập năm 2005 và niêm yết trên sàn chứng khoán KOSPI, HYBE hiện sở hữu vốn hóa thị trường khoảng 9,6 tỷ USD. Trong năm 2025, doanh thu của doanh nghiệp đạt khoảng 1,77 tỷ USD. Doanh nghiệp này tập trung xây dựng tài sản trí tuệ, phát triển nội dung và hệ sinh thái fandom.
Đây là khác biệt nền tảng giữa mô hình kinh doanh truyền thống và công nghiệp văn hóa hiện đại. Giá trị lớn nhất không nằm ở nhà máy hay tài sản hữu hình, mà nằm ở nội dung, quyền sở hữu trí tuệ, dữ liệu người dùng và cộng đồng người hâm mộ.
Đại diện DatVietVAC tin rằng Việt Nam hoàn toàn có thể xây dựng một hệ sinh thái tương tự với bản sắc riêng thông qua giá trị văn hóa Việt Nam.
Mục tiêu không chỉ là tạo ra những tác phẩm thành công trong nước mà còn đưa các IP "Make in Vietnam" trở thành những sản phẩm văn hóa có khả năng chinh phục thị trường quốc tế.
Như vậy, cần tạo ra trải nghiệm tiêu dùng đa giác quan, đa nền tảng và đa tầng liên ngành, trong đó nội dung văn hóa đóng vai trò hạt nhân để kết nối nhiều lĩnh vực khác nhau.
Lộ trình được đề xuất bắt đầu từ việc thay đổi hành vi của công chúng, từ hưởng thụ sang tham gia, tiến tới sở hữu và cuối cùng là lan tỏa các giá trị văn hóa.
Song song với đó là việc hoàn thiện chuỗi giá trị của ngành công nghiệp văn hóa, gồm sáng tạo - sản xuất - phân phối - tiêu thụ, trong đó mỗi khâu đều được hỗ trợ bởi công nghệ và tài sản trí tuệ.
Khi một IP đủ mạnh được hình thành, giá trị của nó có thể tiếp tục mở rộng sang các lĩnh vực liên kết khác.
Hình thành 'kỳ lân công nghiệp văn hóa'
Từ những kinh nghiệm quốc tế, đặc biệt là mô hình phát triển của Hàn Quốc, Chủ tịch DatVietVAC cho rằng Việt Nam đang đứng trước cơ hội tạo nên những doanh nghiệp công nghiệp văn hóa nội dung có quy mô lớn, có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Tuy nhiên, để biến tiềm năng thành hiện thực, bên cạnh nỗ lực của doanh nghiệp, cần có một hệ thống chính sách đủ mạnh.
Tham luận nhấn mạnh nếu các trung tâm tài chính quốc tế hay khu công nghệ cao đều có những cơ chế đặc thù để thu hút đầu tư và tạo động lực phát triển thì công nghiệp văn hóa cũng cần một chính sách tương xứng.
Đây không chỉ là câu chuyện hỗ trợ một ngành nghề, mà là đầu tư cho một lĩnh vực có khả năng tạo ra giá trị gia tăng lớn, nâng cao sức cạnh tranh quốc gia và quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới.
Từ đó, tham luận đề xuất áp dụng cơ chế thẩm định 360 độ nhằm lựa chọn những doanh nghiệp công nghiệp văn hóa nội dung xuất sắc, có năng lực dẫn dắt thị trường và tiệm cận quy mô vốn hóa một tỷ USD để từng bước hình thành các "kỳ lân công nghiệp văn hóa nội dung" của Việt Nam.
Để việc lựa chọn có cơ sở rõ ràng, cần xây dựng bộ tiêu chí dành cho Thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hóa nội dung, tập trung vào ba nhóm năng lực cốt lõi.
Nhóm tiêu chí đầu tiên là năng lực sản xuất và sở hữu nội dung dựa trên tài sản trí tuệ được hình thành từ sáng tạo nguyên bản.
Theo đó, doanh nghiệp cần đạt doanh thu khoảng 3.000 tỷ đồng mỗi năm, có thời gian hoạt động từ 10 năm và hiện diện trong trên 30% các ngành công nghiệp văn hóa.
Bên cạnh quy mô doanh thu, doanh nghiệp phải trực tiếp sáng tạo, sở hữu và khai thác thương mại tối thiểu 5 IP "Make in Vietnam", đồng thời sản xuất và sở hữu từ 50% tổng số giờ nội dung IP "Make in Vietnam" trên thị trường trong ba năm liên tiếp.
Tiêu chí khác được đặt ra là doanh nghiệp cần chiếm 50% tổng lượt xem và lượt nghe trong ba năm liên tiếp đối với các chương trình giải trí đầu bảng (blockbuster). Đồng thời, 100% các sản phẩm blockbuster phải giữ vị trí số một trên các bảng xếp hạng YouTube, Spotify, TikTok, Google Search và dẫn đầu thảo luận trên mạng xã hội.
Những tiêu chí này nhằm xác định doanh nghiệp thực sự sở hữu năng lực sáng tạo, sản xuất và dẫn dắt thị trường bằng chính các sản phẩm mang thương hiệu Việt.
Nhóm tiêu chí thứ hai tập trung vào ứng dụng công nghệ và phát triển tài sản số.
Doanh nghiệp được lựa chọn cần sở hữu và vận hành nền tảng phân phối nội dung Việt Nam xuyên biên giới và trên các mạng xã hội quốc tế, ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo xuyên suốt toàn bộ chuỗi giá trị, từ sáng tạo, sản xuất đến phân phối và tiêu thụ nội dung.
Một chỉ số quan trọng khác được đề xuất là doanh nghiệp cần tiếp cận tối thiểu 20% tổng số người dùng Internet tại Việt Nam hằng tháng (MAU).
Không chỉ tạo ra nội dung, doanh nghiệp còn phải chứng minh khả năng thương mại hóa tài sản trí tuệ khi tạo được giá trị gia tăng tối thiểu 25% trên tổng doanh thu từ hoạt động sản xuất, phân phối và khai thác IP.
Nhóm tiêu chí thứ ba là tối đa hóa giá trị thương mại, xuất khẩu và hợp tác quốc tế.
Doanh nghiệp cần có các chương trình hợp tác chiến lược hoặc liên doanh với nhiều đối tác toàn cầu trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa; đồng thời góp phần quảng bá hình ảnh Việt Nam thông qua điện ảnh, concert và các sản phẩm văn hóa được phát hành ở thị trường quốc tế.
Khi những doanh nghiệp đáp ứng được đầy đủ các tiêu chí này xuất hiện, Việt Nam hình thành được lực lượng doanh nghiệp đầu đàn đủ khả năng cạnh tranh với các tập đoàn công nghiệp văn hóa trong khu vực và trên thế giới.
Để hiện thực hóa mục tiêu đó, tham luận cũng đưa ra một số kiến nghị về chính sách.
Thứ nhất, chính sách hỗ trợ sản xuất thông qua các cơ chế ưu đãi về thuế nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động sáng tạo nội dung.
Thứ hai là hỗ trợ đầu tư và xuất khẩu nội dung, tập trung vào các lĩnh vực có tiềm năng tạo giá trị gia tăng cao như điện ảnh, âm nhạc và hòa nhạc.
Thứ ba là xây dựng cơ chế định giá tài sản trí tuệ, để IP trở thành loại tài sản có thể được định giá, giao dịch, huy động vốn và khai thác thương mại như nhiều quốc gia phát triển đã thực hiện.
Thứ tư, cần tăng cường bảo vệ bản quyền, xây dựng cơ chế xử lý nhanh các hành vi vi phạm theo thông lệ quốc tế nhằm tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh và đảm bảo quyền lợi của các chủ thể sáng tạo.
Tham luận cũng đề xuất cần hình thành hai trung tâm công nghiệp văn hóa nội dung tại 2 thủ phủ văn hóa giải trí: Seoul (Hàn Quốc) và Los Angeles (Mỹ), có chính sách hỗ trợ phát triển các nền tảng nội dung Việt Nam trong các lĩnh vực phim, giải trí và du lịch để gia tăng sức cạnh tranh với các nền tảng quốc tế.
Chủ tịch DatVietVAC tin rằng công nghiệp văn hóa không chỉ là lĩnh vực tạo ra các sản phẩm giải trí hay gìn giữ bản sắc dân tộc, có thể trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn nếu được phát triển trên nền tảng sáng tạo nguyên bản, tài sản trí tuệ, công nghệ và hệ sinh thái doanh nghiệp tư nhân.