Hệ sinh thái kĩ năng
Ông Nguyễn Chí Trường, Trưởng phòng Phát triển kĩ năng, Cục Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên, Bộ GD&ĐT thẳng thắn chỉ ra một nghịch lí đáng suy ngẫm trong cơ cấu lao động Việt Nam.
Với lực lượng lao động khổng lồ khoảng 55 triệu người, nhưng chỉ có gần 30% trong số này sở hữu văn bằng, chứng chỉ chính quy. Đáng chú ý, nhóm lao động trong doanh nghiệp dù chỉ chiếm 27% tổng lực lượng nhưng lại đóng góp tới 65% GDP và 75% ngân sách nhà nước. Theo ông Trường, hơn 70% lao động còn lại đang tham gia thị trường bằng kinh nghiệm tự thân nhưng "vô hình" trên bản đồ trình độ chính thức.
Góc nhìn này của ông là lời cảnh báo về việc lãng phí nguồn lực. Ông khẳng định, việc chuẩn hóa và công nhận năng lực cho nhóm lao động “có tay nghề nhưng thiếu danh phận” này chính là chìa khóa để giải phóng năng suất lao động đang bị kìm hãm.
Ông Trường cho rằng, cần xây dựng một hệ sinh thái kĩ năng nghề đa chiều. Thay vì coi đào tạo là một hoạt động độc lập, phải đặt nó trong mối quan hệ hữu cơ giữa ba thực thể: Nhà nước - người lao động - người sử dụng lao động.
Trong hệ sinh thái này, ông nhấn mạnh những trụ cột, từ khung trình độ quốc gia (VSQF), tiêu chuẩn kĩ năng nghề đến hệ thống đánh giá và tuyển dụng.
Theo đó, doanh nghiệp cần lợi nhuận và năng suất, người lao động cần kĩ năng và thu nhập. Một chính sách thành công phải là “chất xúc tác” để hai mục tiêu này gặp nhau. Khi doanh nghiệp tuyển dụng dựa trên kĩ năng thực tế thay vì bằng cấp lí thuyết, đó là lúc thị trường lao động vận hành hiệu quả và minh bạch nhất.
Ông Trường nhấn mạnh đến vấn đề công nhận và thừa nhận lẫn nhau. Thực tế, nhiều lao động Việt Nam khi ra nước ngoài dù có bằng đại học nhưng vẫn phải làm công việc phổ thông với mức lương thấp chỉ vì thiếu các thỏa thuận quốc tế về kĩ năng.
Ngược lại, ông cũng chỉ ra sự bất công khi lao động nước ngoài vào Việt Nam đôi khi được ưu ái quá mức về vị thế chuyên gia dù trình độ thực tế không vượt trội.
Vì vậy, cần thực hiện Điều 22 Luật Việc làm về việc công nhận lẫn nhau với quốc tế. Đây không chỉ là vấn đề kĩ thuật, mà là cuộc đấu tranh để đòi lại sự công bằng và nâng cao giá trị cho “thương hiệu” lao động Việt Nam trên bản đồ toàn cầu. Theo ông, kĩ năng nghề chính là “áo giáp” giúp người lao động tồn tại trước làn sóng AI.
Ở góc độ xuất khẩu lao động, ông Nguyễn Văn Chiến, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam cho rằng, cần thay đổi thuật ngữ và tư duy từ “xuất khẩu lao động” sang “dịch chuyển kĩ năng”. Ông nhấn mạnh mô hình “Di cư vòng tròn”, trong đó người lao động không chỉ đi để bán sức lao động mà là tham gia vào một chu trình: Đào tạo-di chuyển-tích lũy-trở về.
Theo ông, lao động hồi hương không chỉ mang về nguồn kiều hối đóng góp vào GDP, mà quan trọng hơn, họ mang theo vốn kĩ năng, kinh nghiệm quốc tế và tác phong công nghiệp. Đây chính là nguồn nhân lực chất lượng cao cần thiết cho sự phát triển của các ngành công nghiệp trong nước.
Ông Chiến đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc xây dựng một hệ sinh thái khép kín. Trong đó, hệ thống giáo dục nghề nghiệp không chỉ chuẩn bị cho người lao động đủ điều kiện để đi mà còn phải thiết kế chương trình sao cho họ có thể tái sử dụng kĩ năng khi trở về. Ông trăn trở về thực trạng mất giá trị kĩ năng khi có sự lệch pha giữa chứng chỉ nghề trong nước và quốc tế.
Do đó, việc xây dựng cơ chế công nhận kĩ năng xuyên biên giới là chìa khóa để bảo đảm quyền lợi và phát huy tối đa năng lực của người lao động.
Chuyển dịch từ bằng cấp sang năng lực
Bà Nguyễn Thị Bích Ngọc, chương trình cao cấp, chương trình Đổi mới giáo dục nghề nghiệp III, chương trình cơ chế Đối tác thúc đẩy giáo dục nghề nghiệp và di cư lao động định hướng phát triển đã chia sẻ góc nhìn thông qua kết quả của dự án PAM - Cơ chế Đối tác thúc đẩy Giáo dục nghề nghiệp và Di cư lao động định hướng phát triển (Dự án tập trung vào việc xây dựng một lộ trình đào tạo bài bản, điển hình là nghề Cắt gọt kim loại tại trường LILAMA2 theo tiêu chuẩn của Đức).
Bà Ngọc nhấn mạnh rằng, để lao động Việt Nam có thể đi ra thế giới, hệ thống giáo dục nghề nghiệp cần phải được quốc tế hóa một cách toàn diện. Điều này bao gồm việc xây dựng chương trình đào tạo tham chiếu sát với tiêu chuẩn quốc tế để đạt được sự công nhận chuyên môn tại các quốc gia khắt khe như Đức. Đồng thời, đào tạo ngoại ngữ chuyên ngành và văn hóa cần được tích hợp từ sớm thay vì chỉ là các khóa học bổ trợ ngắn hạn.
Khi kĩ năng lao động được coi là tài sản quốc gia và được đầu tư bài bản theo mô hình hệ sinh thái, lao động Việt Nam sẽ sở hữu tấm hộ chiếu quyền lực để tự tin bước vào kỉ nguyên xanh, không chỉ để làm thuê mà để khẳng định vị thế và trí tuệ Việt trên bản đồ nhân lực toàn cầu.
Bà Đặng Thị Huyền, Trung tâm nghiên cứu giáo dục nghề nghiệp (Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam) cho rằng, cần chuyển dịch mạnh mẽ từ việc trọng bằng cấp sang trọng năng lực thực chất. Thực tế, có một bộ phận lớn lao động tự do hoặc lao động trong các làng nghề có tay nghề rất cao nhưng thiếu bằng cấp. Bà Huyền ủng hộ việc thúc đẩy cơ chế công nhận các loại hình học tập không chính quy và phi chính quy.
Theo bà Huyền, việc đánh giá kĩ năng nghề quốc gia mang lại giá trị đa chiều: giúp người lao động cải thiện cơ hội việc làm, thúc đẩy học tập suốt đời và giúp doanh nghiệp khai thác tối đa năng lực nhân sự. Tuy nhiên, bà cũng thẳng thắn chỉ ra các điểm nghẽn về mạng lưới đánh giá còn mỏng và nhận thức của người dân còn chưa đồng đều.
“Cần phải minh bạch hóa thông tin và chuẩn hóa việc tham chiếu kĩ năng để người lao động thấy được lợi ích sát sườn khi tham gia đánh giá”, bà Huyền nhấn mạnh. Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với những lao động tự do hoặc những người tích lũy kĩ năng qua kinh nghiệm làm việc thực tế nhưng thiếu bằng cấp chính quy, giúp họ có “tấm vé” để tham gia vào thị trường lao động chuyên nghiệp.