Không chỉ bồi thường tài sản
Ông Đào Trung Chính, Cục trưởng Cục Quản lý đất đai (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cho biết một yêu cầu mới trong lần sửa đổi này là chuyển từ tư duy bồi thường thiệt hại về đất sang tư duy tái thiết cuộc sống cho người có đất bị thu hồi.
Theo ông Chính, chính sách cần tập trung giải quyết các vấn đề về tái thiết sinh kế, việc làm và thu nhập cho người dân sau khi bị thu hồi đất. Đây là những yếu tố quyết định việc người dân có thực sự ổn định cuộc sống sau tái định cư hay không.
Ông Chính cũng cho biết, có ý kiến cho rằng, các quy định về bồi thường, hỗ trợ hiện khá chi tiết, làm hạn chế tính chủ động của địa phương. Vì vậy, có thể nghiên cứu quy định một nguyên tắc chung trong luật, trên cơ sở đó, giao địa phương căn cứ điều kiện, hoàn cảnh cụ thể để đưa ra mức hỗ trợ.
Cho rằng mục tiêu “tái thiết cuộc sống” cần được thể hiện trực tiếp trong luật, ông Trương Anh Tuấn, Giám đốc Công ty Luật Trường Sơn đề xuất bổ sung nguyên tắc: mục tiêu của bồi thường, hỗ trợ, tái định cư là tái thiết cuộc sống của người có đất bị thu hồi, bảo đảm điều kiện về nơi ở, tiếp cận dịch vụ thiết yếu và duy trì hoặc phục hồi sinh kế.
Theo ông Tuấn, bên cạnh việc bảo đảm quyền lợi tại thời điểm thu hồi đất, cơ quan soạn thảo nên nghiên cứu cơ chế đánh giá hậu tái định cư sau một khoảng thời gian nhất định. Làm như thế có thể đánh giá người dân có thực sự ổn định cuộc sống, phục hồi việc làm và thu nhập sau khi chuyển đến nơi ở mới hay không.
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Nguyễn Quốc Hiệp, Chủ tịch Hiệp hội các nhà thầu xây dựng Việt Nam, cho rằng quy định về hình thức bồi thường cần tạo sự linh hoạt cho địa phương.
Theo ông Hiệp, nguyên tắc là bồi thường bằng đất có cùng mục đích sử dụng với đất bị thu hồi; trường hợp không có đất để bồi thường thì bồi thường bằng tiền. Tuy nhiên, nếu địa phương có quỹ đất, quỹ nhà ở và người bị thu hồi đất có nhu cầu, có thể xem xét bồi thường bằng đất khác mục đích sử dụng hoặc bằng nhà ở. Trường hợp người được bồi thường có nhu cầu nhận tiền thì bồi thường bằng tiền.
“Đây là quy định mở, tạo sự linh hoạt cho giải phóng mặt bằng”, ông Hiệp nói.
Tuy nhiên, ông đề nghị cơ chế này chỉ nên áp dụng đối với đất ở hoặc đất khác có thu tiền sử dụng đất, không nên áp dụng đối với đất nông nghiệp, đất rừng phòng hộ không thu tiền sử dụng đất. Việc mở rộng quá nhiều trường hợp có thể khiến nhà đầu tư gặp khó trong xác định giá trị bồi thường, bố trí quỹ đất, quỹ nhà và tổ chức thực hiện dự án...
Không để mất sinh kế sau tái định cư
Ông Phạm Thanh Tuấn, chuyên gia pháp lý bất động sản, cho rằng quyền tái định cư tại chỗ không nên phụ thuộc quá nhiều vào việc dự án được phân loại là “khu đô thị” hay “khu dân cư nông thôn”.
Theo ông, có trường hợp Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án nhà ở thương mại nhưng quy mô nhỏ, chưa đáp ứng tiêu chí “khu đô thị”. Khi đó, người dân có thể không thuộc trường hợp được bảo đảm bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở tại chỗ. Trong khi đó, tại khu đất khác được xác định là khu đô thị, người dân lại có thể được áp dụng chính sách tái định cư tại chỗ.
“Sự khác biệt này có thể dẫn đến tình trạng người dân có hoàn cảnh tương đồng nhưng được hưởng chính sách khác nhau”, ông Tuấn nhận định.
Đáng chú ý, so với Luật Đất đai 2024, dự thảo không còn quy định ưu tiên vị trí thuận lợi đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở kết hợp kinh doanh, dịch vụ và người có công với cách mạng bị thu hồi đất.
Ông Tuấn cho rằng, cần cân nhắc kỹ việc bỏ quy định này, bởi với người sử dụng đất ở kết hợp kinh doanh, dịch vụ, vị trí đất gắn trực tiếp với việc làm và thu nhập. Nếu chỉ được bố trí chỗ ở mới nhưng vị trí không phù hợp, người dân có thể mất sinh kế.
Do đó, ông đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu mở rộng nguyên tắc tái định cư tại chỗ đối với trường hợp thu hồi đất để triển khai dự án nhà ở thương mại, đồng thời kế thừa nguyên tắc ưu tiên vị trí thuận lợi cho người sử dụng đất ở kết hợp kinh doanh, dịch vụ.