Để nông sản tỷ đô không vỡ trận xuất khẩu: Gian nan tìm 'hộ chiếu'

TP - Từ loại cây từng được xem là “xóa đói giảm nghèo”, sầu riêng đã trở thành ngành hàng xuất khẩu (XK) tỷ đô của Việt Nam, liên tục lập kỷ lục tại thị trường Trung Quốc mấy năm qua. Với sự phát triển quá nóng của ngành hàng này, nhiều bất cập trong quản lý và cấp mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói, pháp lý doanh nghiệp đã dần lộ ra, bị Công an điều tra, xử lý. Đã đến lúc cần lập lại trật tự để ngành hàng tỷ đô phát triển ổn định, bền vững.

Được ví như “hộ chiếu” đưa sầu riêng Việt Nam vào thị trường Trung Quốc, nhưng phía sau những mã số vùng trồng (MSVT), mã số cơ sở đóng gói (CSĐG) đang lộ ra nhiều bất cập. Từ chuyện chồng lấn đến hành trình gian nan xin cấp mã số, những điểm nghẽn này đang đặt ra yêu cầu phải đại phẫu ngành hàng tỷ đô.

Đắk Lắk hiện là một trong những "thủ phủ" sầu riêng của cả nước với hơn 41.000ha, sản lượng năm 2026 ước gần 500.000 tấn. Riêng niên vụ 2025 vừa qua, kim ngạch XK của tỉnh ước đạt hơn 1,1 tỷ USD.

Đằng sau những con số tăng trưởng ấn tượng ấy là áp lực ngày càng lớn về quản lý vùng nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc và minh bạch chuỗi XK. Trong đó, MSVT - mã định danh dành cho vùng sản xuất đáp ứng yêu cầu của nước nhập khẩu (NK) về truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm và kiểm dịch - được ví như “tấm vé quyền lực” để sầu riêng XK chính ngạch sang Trung Quốc.

Thực tế tìm hiểu của nhóm phóng viên báo Tiền Phong cho thấy tại Đắk Lắk, việc xây dựng, quản lý và sử dụng MSVT vẫn còn nhiều bất cập.

Vườn mình, mã số của người khác

Hơn 3 năm qua, HTX Dịch vụ Nông nghiệp sạch (xã Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk) vẫn chưa được giải quyết dứt điểm việc 52ha sầu riêng của 62 hộ thành viên bị chồng lấn MSVT với HTX Cây ăn trái Krông Pắc.

Ông Lê Văn Thành, Giám đốc HTX Dịch vụ Nông nghiệp sạch, cho biết, từ năm 2023 đến nay, đơn vị nhiều lần gửi kiến nghị, làm việc với các cơ quan liên quan nhưng vụ việc vẫn chưa được xử lý.

5a.jpg
Ông Lê Văn Thành chia sẻ hành trình đòi lại mã số vùng trồng

HTX được thành lập đầu năm 2023, ban đầu có hơn 152ha, nay mở rộng lên hơn 170ha. Khi rà soát hồ sơ để xây dựng MSVT, HTX phát hiện khoảng 52ha của 62 hộ dân đã nằm trong MSVT được cấp trước đó cho HTX Cây ăn trái Krông Pắc. Điều đáng nói, nhiều hộ dân không hề biết diện tích của mình đã được đưa vào một MSVT khác.

Ông Lương Quang Cường, thành viên HTX Dịch vụ Nông nghiệp sạch, cho biết gia đình có hơn 3ha sầu riêng, trong đó gần 2ha bị chồng lấn MSVT.

Khoảng năm 2018-2019, một đơn vị thuộc HTX Cây ăn trái Krông Pắc từng đến vườn treo tem truy xuất nguồn gốc rồi không quay lại. Gia đình ông cũng không ký bất kỳ hồ sơ hay được thông báo về việc lập MSVT.

5b.jpg
Có mã số vùng trồng, sầu riêng mới được xuất khẩu chính ngạch sang Trung Quốc

“Chỉ đến khi HTX Dịch vụ Nông nghiệp sạch lập hồ sơ xin cấp MSVT, tôi mới biết diện tích của mình đã nằm trong mã số của đơn vị khác. Tôi mong cơ quan chức năng sớm rà soát, điều chỉnh để MSVT được quản lý đúng nơi, đúng người sản xuất”, ông Cường nói.

Theo ông Thành, việc xử lý không quá phức tạp vì danh sách hộ dân, tọa độ và diện tích đều đã được xác định. Chỉ cần rà soát, tách 52ha bị chồng lấn, sau đó đơn vị đang quản lý MSVT thực hiện ủy quyền hoặc chuyển giao là có thể giải quyết dứt điểm.

Trầy trật xin cấp MSVT

Nếu câu chuyện chồng lấn MSVT phản ánh những bất cập trong công tác quản lý, thì hành trình xin cấp MSVT lại cho thấy sự gian nan của những đơn vị làm bài bản.

Tháng 3/2023, khi nhiều nhà vườn còn xa lạ với khái niệm MSVT, HTX Sản xuất Dịch vụ Nông nghiệp Thăng Tiến (xã Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk) đã bắt đầu xây dựng những hồ sơ đầu tiên.

Thế nhưng, phải hơn 2 năm sau (đến tháng 6/2025), HTX mới được cấp 5 MSVT đầu tiên. Năm 2026, HTX được cấp thêm 1 mã, nâng tổng số lên 6 MSVT với diện tích 125ha, sản lượng khoảng 3.500 tấn sầu riêng; trong khi 12 mã khác, tương ứng 275ha, vẫn đang chờ.

Ông Lê Tấn Dũng, Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc HTX Sản xuất Dịch vụ Nông nghiệp Thăng Tiến, cho biết, để có một MSVT, HTX phải vận động từng hộ dân tham gia liên kết, thu thập hồ sơ đất đai, căn cước công dân, hướng dẫn ghi chép nhật ký sản xuất, truy xuất nguồn gốc và thống nhất quy trình canh tác.

Không chỉ mất thời gian, việc xây dựng MSVT còn tiêu tốn nhiều chi phí. Dù Nhà nước không thu phí cấp mã, HTX vẫn phải tự bỏ tiền thuê nhân công đo đạc, định vị ranh giới vùng trồng, lập bản đồ, nhập dữ liệu, thuê thiết bị bay không người lái để hoàn thiện hồ sơ. “Có vùng trồng, riêng tiền thuê thiết bị bay đã khoảng 4 triệu đồng một ngày. Tất cả đều do HTX tự lo”, ông Dũng nói.

Sau khi địa phương xác nhận, hồ sơ tiếp tục trải qua nhiều bước kiểm tra thực địa, đối chiếu thông tin trước khi được xem xét cấp mã số.

Thủ tục lòng vòng, tạo đất sống cho “cò” mã số

Không chỉ mất thời gian, nhiều HTX còn gặp rào cản ngay từ khâu xác nhận hồ sơ. Đại diện một HTX ở huyện Krông Pắc (cũ), tỉnh Đắk Lắk cho biết, từng nhiều lần mang hồ sơ đến UBND xã nhưng bị từ chối xác nhận.

“Doanh nghiệp về làm MSVT thì được hỗ trợ, còn HTX của tôi thì rất vất vả. Có thời điểm xã thông báo không cho làm với lý do “chưa có chủ trương của huyện”, dù người dân đều đồng thuận, ký hồ sơ đầy đủ. Thậm chí, đài truyền thanh của xã còn phát thông báo không cho HTX triển khai. Đến giờ tôi vẫn giữ văn bản đó làm kỷ niệm”, vị này nói.

Trước những vướng mắc này, HTX buộc phải chuyển sang triển khai tại các địa phương lân cận. Chỉ sau khi những nơi này hoàn tất việc cấp MSVT, địa phương từng từ chối mới đồng ý xác nhận hồ sơ.

Bên cạnh đó, chi phí cũng là rào cản lớn. Một đại diện HTX tiết lộ, có đơn vị báo giá từ 240-250 triệu đồng để hoàn thiện hồ sơ cho một mã số CSĐG.

Với HTX, đây là khoản kinh phí quá lớn nên buộc phải tự tìm hiểu quy định, tự hoàn thiện hồ sơ bằng chính nhân lực của mình.

5c.jpg
Mã số cơ sở đóng gói là một trong những điều kiện tiên quyết để xuất khẩu

Đại diện HTX cũng bày tỏ mong muốn cơ quan quản lý sớm đơn giản hóa thủ tục cấp MSVT và mã số CSĐG, đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong quản lý để người dân, HTX có thể trực tiếp thực hiện thay vì phụ thuộc vào đơn vị trung gian.

Theo vị này, hiện nay việc ghi chép nhật ký sản xuất vẫn chủ yếu thực hiện thủ công bằng sổ sách, vừa mất thời gian, vừa khó kiểm tra, đối chiếu. Nếu được số hóa bằng các ứng dụng điện tử, người sản xuất sẽ thuận tiện hơn trong việc cập nhật quá trình canh tác, đồng thời giúp cơ quan quản lý dễ dàng giám sát, truy xuất nguồn gốc.

Liên quan những khó khăn, vướng mắc trên, ông Nguyễn Hoàng Hiệp, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường (Bộ NN&MT), cho hay, Bộ đã hoàn thiện quy trình thủ tục hành chính toàn trình, áp dụng từ 1/8/2026. Người dân chỉ cần kê khai hồ sơ trực tuyến và sẽ được cấp MSVT nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện.

Bộ cũng sẽ định hướng việc cấp mới MSVT và mã số CSĐG theo hướng giao trực tiếp cho người sản xuất hoặc người có quyền sử dụng đất hợp pháp; cắt giảm thủ tục hành chính, chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, đẩy mạnh số hóa dữ liệu, bảo đảm công khai, minh bạch.

Đằng sau những MSVT, mã số CSĐG - “hộ chiếu” của sầu riêng xuất khẩu là “miếng bánh” mang lại nhiều lợi ích kinh tế. Vậy ai đang thực sự hưởng lợi? Những mảng tối nào đang bị lộ sáng… Những nội dung này sẽ được hé lộ trong kỳ sau: “Lộ ‘miếng bánh’ béo bở, lợi ích chảy vào túi ai?”.