Khúc bi tráng của vị tướng đầu tiên

Khúc bi tráng của vị tướng đầu tiên
TP - Đã có lần, Đại tướng Võ Nguyên Giáp tâm sự với một số nhà báo rằng: “Cứ mỗi khi nghĩ đến anh Phùng Chí Kiên là tôi lại muốn khóc”.

Thấu hiểu nỗi lòng của Đại tướng, từ đầu năm 2002, một nhà báo tâm huyết đã dày công tìm hiểu thân thế và cuộc đời hoạt động cách mạng của bác Phùng Chí Kiên.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp trao đổi với đoàn tìm kiếm một phần hài cốt của Liệt sỹ Phùng Chí Kiên
Đại tướng Võ Nguyên Giáp trao đổi với đoàn tìm kiếm một phần hài cốt của Liệt sỹ Phùng Chí Kiên


Hơn nửa thế kỷ trôi qua kể từ ngày bác Phùng Chí Kiên hy sinh (1941), cũng mới chỉ có một số ít bài báo, tài liệu đăng tải với nội dung còn sơ sài, chưa đủ khắc họa chân dung vị tiền bối cách mạng.

Song, dựa trên những tài liệu thu thập được, phát hiện ra rằng hàng chữ “Phùng Chí Kiên - Ủy viên Trung ương Đảng” trên bia mộ của ông trong Nghĩa trang Mai Dịch - Hà Nội là chưa chính xác. Nhiều tài liệu khẳng định Phùng Chí Kiên là Ủy viên Thường vụ T.Ư Đảng khóa I (1935).

Như vậy, Phùng Chí Kiên được coi như bậc khai quốc công thần; và cũng chính Phùng Chí Kiên là người đầu tiên chính thức được phong hàm tướng bằng Sắc lệnh 89/SL do Hồ Chủ tịch ký ngày 23/9/1947.

Song, có một bất ngờ tới mức khó hiểu là cho tới tận thời điểm đó (2002), nghĩa là sau 61 năm hy sinh anh dũng, vị tướng đầu tiên của quân đội ta vẫn chưa được công nhận là liệt sỹ. Vì sao vậy?

Dưới đây, chúng tôi xin gửi tới bạn đọc một số tư liệu, sự việc, tình tiết còn ít được biết đến trong cuộc đời bi tráng của nhà cách mạng Phùng Chí Kiên, đồng thời lý giải cho câu hỏi nêu trên.

I - Cuộc truy sát 12 năm có lẻ

Phùng Chí Kiên - cái tên do Lý Thụy (Nguyễn Ái Quốc) đặt với ý nghĩa “sự gặp gỡ giữa ý chí và lòng kiên trung” - tên thật là Nguyễn Vỹ, sinh năm Tân Sửu (1901) tại làng Mỹ Quan Thượng, Tổng Vạn Phần, nay là xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

Tốt nghiệp tiểu học, 14 tuổi, Nguyễn Vỹ đã thoát ly gia đình, làm cu ly trong nhà máy xe lửa Tràng Thi sớm được giác ngộ, tham gia một số phong trào yêu nước. Tháng 10/1925, Nguyễn Vỹ tìm đường sang Quảng Châu (Trung Quốc) bắt liên lạc với những người đồng hương như Lê Huy Doãn (tức Lê Hồng Phong), Phạm Thành Tích (tức Phạm Hồng Thái)...

Trước lúc ra đi, để tránh mật thám, Nguyễn Vỹ nhờ chú ruột lo cho tấm căn cước mang tên Nguyễn Hào; sau này, trước sự truy lùng gắt gao của mật thám Đông Dương, Nguyễn Vỹ còn dùng tới hơn 20 bí danh mà, trong đó, mật thám đã lần tìm ra được những bí danh như Sở Vĩ - Nguyễn Vợi - Nguyễn Như - Nguyễn Hào - Mạnh Văn Liễu - Ma - Kan - Cồ Văn Yên - Hừng Đông - Như Bách - Tho - Pho - Phùng - Phùng Nguôn Bình - Phùng Quốc Nghiêu - Phùng Hừng Đông - Uông Thiệu Nguyên - Đông Hải - Lý Đồng - Lý Như Nam - Lý Duy Tân - Hoàng Hầu...

Những người cùng thời đều đánh giá và ghi nhận Phùng Chí Kiên là nhà cách mạng văn - võ song toàn, cũng là một trong những chiến sĩ cộng sản bị địch theo dõi, truy lùng gắt gao nhất.

Ngay khi được tin Nguyễn Vỹ mất tích, Giám đốc Sở Liêm phóng Trung Kỳ, tên trùm Sô-nhi khét tiếng, ra lệnh truy tìm dấu tích của Nguyễn Vỹ và liên tục thúc ép chánh thanh tra mật thám Vinh Billet phải bằng mọi cách nắm được hành tung của Nguyễn Vỹ.

Đến ngày 6/4/1929, Chánh thanh tra mật thám Vinh đã lần ra được dấu vết đầu tiên của Nguyễn Vỹ thông qua một cuộc hỏi cung một nhân vật có tên Lê Mẫn:

“Billet Vitor (hỏi): “Ngày 20/1 trước anh khai sai, lần này anh có nói đúng sự thật không?”

Lê Mẫn (trả lời): “... Như tôi đã nói với ông trong lần cung khai trước, tôi được Nguyễn Năng Tựu lựa chọn đi. Tôi gặp anh ấy (tức Nguyễn Hào) khoảng 10 ngày trước khi tôi đến nhà cháu tôi là Lê Nhiếp ở làng Yên Lý...”.

Ba ngày sau, hồi 14 giờ ngày 9/4/1929 trong Bản cung HS178-C1 xét hỏi Lý trưởng Nguyễn Đức Hinh:

“Billet Vitor (hỏi): Hộ tịch của ông?”.

Nguyễn Đức Hinh (trả lời): “Nguyễn Đức Hinh, 33 tuổi hiện là Lý trưởng làng Mỹ Quan Thượng, Tổng Vạn Phần, Phủ Diễn Châu, Nghệ An”.

Billet Vitor: “Khi ông nhận làm lý trưởng và ông có biết Nguyễn Vợi (tức Vỹ) bỏ đi, tại sao ông không báo cho Tri phủ Diễn Châu biết?”.

Nguyễn Đức Hinh:  “Tôi chỉ biết việc này vào ngày 1/4/1929, nghĩa là ngày mà Tri phủ Diễn Châu bảo tôi điều tra về việc này”.

Billet Vitor:  “Kết quả điều tra của ông như thế nào?

Nguyễn Đức Hinh: “Nguyễn Vợi (tức Vỹ) đã đi ra nước ngoài.”

Sang đến Quảng Châu, với bí danh Mạnh Văn Liễu, Nguyễn Vỹ được cử đi học trường quân sự Hoàng Phố, sau đó, đến đầu năm 1931, được Lý Thụy (Nguyễn Ái Quốc) giới thiệu sang học trường Đại học Phương Đông ở Mátxcơva.

Trên đường đi, Mạnh Văn Liễu bị phát xít Nhật bắt giam chín tháng. Sau không tìm được bằng chứng, địch phải thả, Mạnh Văn Liễu tiếp tục sang Mátxcơva.

Tin tức Mạnh Văn Liễu bị bắt ở Quảng Châu, Trung Quốc đã đến tai chánh mật thám Trung kỳ Sô Gay và hắn liền gửi một chỉ thị mật vào ngày 10/10/1931 tới “các ông chánh Cẩm” ở Vinh và Hà Tĩnh.

“Một thám tử của mật thám Đông Dương báo tin là trong những người tham gia hồng quân bị bắt có tên Mạnh Văn Liễu - cựu học sinh trường Hoàng Phố, tham gia Đảng Thanh niên, được Nguyễn Ái Quốc chỉ định đi học ở Mạc Tư Khoa...Mạnh Văn Liễu lấy căn cước ở Vinh ngày 14/2/1925 với tên Nguyễn Hào, số hiệu căn cước là A93634, do Lý trưởng làng Mỹ Quan Thượng Nguyễn Khải giới thiệu...

Mạnh Văn Liễu khi thì như một người Bắc Kỳ nói giọng Ninh Bình, khi thì như người Trung Kỳ, nói giọng Nghệ Tĩnh. Nếu không đúng, phải chỉ thị truy nã Lý trưởng Nguyễn Khải là người đã đảm bảo tính chất chính xác của những điều đã ghi trong căn cước và cho tôi biết ngay những tồn nghi về việc này.

Đính theo đây là một bản hồ sơ về Mạnh Văn Liễu

Chánh Mật thám Trung Kỳ

Đã ký So Gay”.

Sau bức điện mật này, địch tìm về tận quê Nguyễn Vỹ lùng sục gắt gao và gần hai tháng sau, 2/12/1931, Tri phủ Diễn Châu đã hoàn tất bản phúc trình số 25, lột tả khá chính xác về Nguyễn Hào - Mạnh Văn Liễu:

“Kính phúc trình về khoản tên Nguyễn Hào mà các quan lớn ủy tôi dò xét như sau: Nguyễn Hào ấy là con Nguyễn Khoản, 59 tuổi, và Trần Thị Cúc (đều còn sống), lúc bé tên Nguyễn Vỹ, đi học trường Tổng.

Tháng 6 năm Khải Định thứ 10 (1925) làm thư ký cho một người Hoa buôn ngô gạo ở ga Yên Lý, đến cuối năm ấy bỏ đi không thấy về, giấy căn cước A93634 là của Nguyễn Hào chú nó, tuổi xấp xỉ như nó, diện mạo cũng như nhau...”.

Dựa trên bản Phúc trình của Tri phủ Diễn Châu, chánh Cẩm Vinh điện cho chánh Mật thám Trung kỳ Sô Gay, ngày 15/1/1932: “Tiếp theo mật thư của ông ngày 10/10/1931, tôi hân hạnh báo cáo với ông, theo sự điều tra của Sở, kết luận rằng: -Tên Mạnh Văn Liễu tức Nguyễn Hào, tức Như Bách A8310, không ai khác là tên Nguyễn Vỹ, tức Sở Vỹ, tức Nguyễn Vợi, tức Nguyễn Như A8411, đã bỏ quê ra đi từ tháng 10/1925 cùng với tên Lê Mẫn A8299.

Thẻ căn cước số A93634 được cấp ở Vinh ngày 14/2/1925 không phải của Nguyễn Vỹ mà của chú nó - tức Nguyễn Hào...hiện ở trong liên đội thứ 4, đội lính khố đỏ Bắc Kỳ ở Nam Định. Tuy vậy, để đảm bảo chính xác hơn, cần hỏi Nguyễn Hào về việc mất thẻ căn cước”.

Hơn một tháng sau, ngày 23/2/1923, trùm mật thám Trung kỳ Sô-Nhi lại gửi tin mật cho chánh Cẩm Vinh:

“Kính gửi ông chánh Cẩm Vinh!

Tiếp theo công văn số 85-CS ngày 15/1/1932 của ông, việc tầm nã được tiến hành dưới sự kiểm soát của liên đội 4 bộ binh, vẫn không tìm được tên lính khố đỏ Nguyễn Hào mà Nguyễn Vỹ bí danh Mạnh Văn Liễu đã đánh cắp thẻ căn cước A93634, nên cần tiến hành gấp cuộc điều tra, báo cho tôi biết mọi tin tức thu thập được, có thể tìm được dấu vết của Nguyễn Hào”.

Trong khi bọn địch vẫn loay hoay với tấm thẻ “căn cước Nguyễn Hào” thì Mạnh Văn Liễu đã an toàn tới Mátxcơva và theo học Đại học Phương Đông và Trường Quân sự Lục quân.

Năm 1934, sau khi tốt nghiệp hai trường trên, Mạnh Văn Liễu và Hà Huy Tập được Quốc tế Cộng sản phái về tăng cường cho Ban Lãnh đạo Hải ngoại - Đảng Cộng sản Đông Dương ở Hồng Công. Sau khi Mạnh Văn Liễu rời Mátxcơva, trùm mật thám Sô-Nhi mới nhận được mật thư số 170 ngày 24/5/1935:

“...Tiếp theo thông báo số 1152 ngày 15/5/1934, sự có mặt của Nguyễn Hào tức Kan, tức Mạnh Văn Liễu, tức Như Bách, tức Cồ Văn Yên, tức Nguyễn Vợi, tức Nguyễn Vỹ, tại trường Đại học Phương Đông ở Mạc Tư Khoa, đã được mấy tên người Nam kỳ là Nguyễn Văn Dut (tức Sắn) và Trần Văn Minh (tức Nam) xác nhận”.

Tháng 8 năm 1936, theo tinh thần Nghị quyết của Đại hội lần thứ 7 của Quốc tế Cộng sản và Hội nghị Lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương (Khóa I), Phùng Chí Kiên và Hà Huy Tập về Sài Gòn chỉ đạo phong trào cách mạng.

Ngày 22/3/1938, Trùm Sô-Nhi nhận được điện báo cáo mật số 599 của Thanh tra An ninh: “Về hội nghị BCH T.Ư Đảng Cộng sản Đông Dương họp ở Bà Điểm - Gia Định trong tháng 8+9/1937..., tên cộng sản từ Trung Quốc về tham gia Hội nghị Toàn thể BCH T.Ư Đảng Cộng sản Đông Dương, họp ở Bà Điểm (Gia Định) trong tháng 8+9/1937 là Mạnh Văn Liễu, tức Kan, tức Nguyễn Hào, quê ở Mỹ Quan Thượng, Phủ Diễn Châu (Nghệ An).

Nó đã được các đại biểu hội nghị cử vào ban lãnh đạo, đúng như những lời khai báo mà Nha An ninh đã thu thập được trong ngày 27+28/5, nói về thành phần ban lãnh đạo ở Ma Cao, năm 1935”.

Có lẽ, báo cáo mật trên nhắc đến việc tại Đại hội lần thứ I của Đảng (Ma Cao - 1935), Mạnh Văn Liễu (tức Phùng Chí Kiên) là một trong năm người được bầu vào Ban Thường vụ (có tài liệu nêu Ban Thường vụ chỉ có ba người gồm Lê Hồng Phong, Phùng Chí Kiên và Đinh Thanh (Tổng Thư ký - Tổng Bí thư  là Lê Hồng Phong - PV).

Biết rõ Mạnh Văn Liễu trở về nước hoạt động trong một khoảng thời gian khá dài, và cũng đã giăng lưới khắp nơi nhưng đám tay chân của Sô - Nhi vẫn không sao nhổ được cái gai trong con mắt của tên trùm mật thám này.

Sau một thời gian hoạt động trong nước, theo yêu cầu của tổ chức, Mạnh Văn Liễu trở lại Hồng Công thay cho Lê Hồng Phong, hoạt động trong Ban Hải ngoại (còn gọi là Ban Chỉ huy ở Ngoài của Đảng), dưới cái tên mới Phùng Nguôn Bình, người Trung Quốc (Theo Tiến sĩ Sử học Nguyễn Văn Khoan, Phùng Chí Kiên rất giỏi tiếng Trung Quốc, trong giao tiếp hàng ngày, không ai biết được ông là người ngoại quốc).

Vào ngày 25/10/1938, khi Phùng Nguôn Bình đang ở trong căn nhà số 71 phố Đại Nam - Hồng Công thì bị cảnh sát Anh vây bắt. Do không phát hiện được tài liệu, chứng cứ gì, Thống đốc Hồng Công phải ký lệnh trả tự do cho Phùng Nguôn Bình và trục xuất khỏi Hồng Công vào ngày 6/12/1938.

Rất tức tối sau bao năm truy lùng vẫn không bắt được Nguyễn Vỹ - Mạnh Văn Liễu, liên tục trong hai năm 1938 - 1939, trùm mật thám Trung Kỳ Sô - Nhi liên tục ra hết mật lệnh này đến mật lệnh khác.

Ngày 16/3/1938, Sô - Nhi lại ra tiếp một mật lệnh số 4762 gửi chánh cẩm các tỉnh Trung Kỳ, nêu rõ “...Tiếp theo Thông báo số 1152 ngày 18/5/1934 của tôi: Tên xuất dương Nguyễn Hào tức Mạnh Văn Liễu, tức Phùng, ủy viên Ban lãnh đạo Hải ngoại của Đảng Cộng sản Đông Dương, bị các nhà chức trách Anh bắt ở Hương Cảng ngày 25/10/1938, đã bị trục xuất về Sán Đầu ngày 6/12 cùng năm. Nguyễn Hào, tức Mạnh Văn Liễu có ý định trở về Đông Dương, với một căn cước giả làm người Trung Quốc”.

Gần một tháng sau, ngày 9/1/1939, Sô - Nhi lại gửi tiếp mật thư  số 92: “Tiếp theo Thông báo số 4672 ngày 16/12/1938 của tôi: Lúc bị bắt ở Hồng Công ngày 25/10/1938, trong người tên Nguyễn Hào, tức Mạnh Văn Liễu, tức Phùng, bắt được một mảnh giấy chứng nhận người Hoa kiều, cấp ở Sài Gòn ngày 18/10/1937 cho Phùng Nguôn Bình 36 tuổi, là tên Hoa kiều A - Ka, mang thẻ căn cước số 117076...”

Hơn ba tháng sau, không biết xuất phát từ nguồn tin nào, Sô - Nhi lại ra tiếp mật thư số 1130  khẳng định... Mạnh Văn Liễu, tức Phùng có ý định trở về Đông Dương, nó đang tìm cách kiếm tiền để về”.

Cùng thời gian này, Tổng đốc An Tĩnh - Vinh cũng nhận được mật lệnh... tên Nguyễn Hào, bí danh Mạnh Văn Liễu, tức Phùng, có ý định đi thăm bà con bạn bè... Tôi yêu cầu ông chỉ thị cho Tri phủ Diễn Châu, tìm mọi cách để bắt được tên lãnh tụ cộng sản này”.

Trong khi Sô - Nhi lồng lộn tìm tung tích và đón lõng Nguyễn Hào tại quê, thì Phùng Chí Kiên vẫn đang hoạt động tại Côn Minh, thủ phủ tỉnh Vân Nam. Tại đây, Phùng Chí Kiên gặp ông Trần (bí danh của Nguyễn Ái Quốc trong thời gian hoạt động tại Côn Minh).

Đầu năm 1941, ông Trần cùng Phùng Chí Kiên, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Cao Hồng Lĩnh, Đặng Văn Cáp... mở lớp huấn luyện cho 43 cán bộ Việt Nam.

Sau khi bế mạc lớp học này, sáng mồng 2 tết Tân Tỵ (tức 28/1/1941), Phùng Chí Kiên cùng già Thu (bí danh mới của Nguyễn Ái Quốc) và một số cán bộ khác vượt biên giới về bản Pắc Bó...

Gần hai tháng sau khi Phùng Chí Kiên về nước cùng già Thu, ngày 19/3/1941, từ Huế, Sô - Nhi đã gửi nhanh cho Giám đốc Sở Liêm phóng Trung Kỳ và viên công sứ Vinh mật thư số 1530 với nội dung: “Về việc xuất dương trở về Đông Dương của Mạnh Văn Liễu...

Tên Mạnh Văn Liễu có thể vừa trở về từ Đông Dương, tôi yêu cầu các ông cho tích cực truy nã... Ảnh của Mạnh Văn Liễu đã đính kèm Thông báo số 256 ngày 20/1/1924 của tôi, gửi tất cả các ông cảnh sát trưởng ở Trung Kỳ”.

Bẵng đi một thời gian dài cho đến ngày 2/12/1941, Giám đốc Sở cảnh sát Đông Dương, Rô-be Pê-rô-sơ, ra bản Thông báo số 8801-C gửi các viên cảnh sát trưởng ở Trung Kỳ về việc nhận dạng một tên phiến loạn bị giết ở Khau Pàn, tỉnh Bắc Cạn ngày 22/8/1941:

“... Những vật và tài liệu tìm được trong xác tên phiến loạn, đã bị giết ở Khau Pàn (Bắc Cạn) là của tên  Phùng quê ở Trung Kỳ... Ngoài ra, một cuộc thẩm tra các tang vật... đã khám phá ra một bó dây điện trong người tên phiến loạn, còn có một con dấu có những chữ Hán sau đây: Phùng Quốc Nghiêu - Ấn - con dấu của Phùng Quốc Nghiêu.

Những tang vật trên đây, cho phép chúng ta nhận ra Phùng Quốc Nghiêu là tên của tên phiến loạn bị giết. Đến nay, chưa có đích xác về căn cước của tên An Nam này, vì vậy, tôi yêu cầu các ông báo cho tôi biết tất cả những điều gì các ông biết hoặc thu thập được về vấn đề này.

Tên phiến loạn này có đặc điểm sau đây: khoảng 38 tuổi, cao 1,65 mét, thân hình vừa phải, mặt bầu dục, gò má cao, tóc hất ngược ra sau.”

16 ngày sau, 18/12/1941, thanh tra an ninh Vây - Ren từ Vinh có thư trả lời số 535: “... Trả lời Mật thư số 8801-C ngày 2/12/1941 của ngài: Tôi xin  báo cùng ngài rõ, tên Phùng, tức Phùng Quốc Nghiêu, nói trong thông báo mật thư trên của ngài, có thể đúng là tên xuất dương đã được chúng ta biết rõ là Mạnh Văn Liễu, tức Phùng, tức Ma ( A8310) quê ở Mỹ Quan Thượng, Tổng Vạn Phần, Phủ Diễn Châu, Nghệ An”.

Nghiên cứu kỹ lưỡng các mật thư cũng như thủ đoạn của Trùm Sô - Nhi và đối chiếu với những bước đi, chặng đường hoạt động của nhà cách mạng Phùng Chí Kiên thì thấy rõ một điều rằng, mặc dù với mạng lưới mật vụ giăng tỏa khắp nơi, lại được sự hỗ trợ đắc lực của mật thám Anh ở Hồng Công và Trung Quốc, trong cuộc đấu trí  này (nếu có thể gọi như thế) thì Sô - Nhi và đám tay chân của y luôn luôn là người đến sau.

Phải mất ngót bảy năm trời, Sô - Nhi mới xác định được Nguyễn Hào - Mạnh Văn Liễu chính là Nguyễn Vỹ. Rồi đến những đợt truy lùng trước đây đều thể hiện cứ mỗi khi Sô - Nhi nắm được tung tích thì Mạnh Văn Liễu đã rời khỏi nơi đó...

Còn lần này thì sao? Phải chăng Phùng Chí Kiên đã rơi vào cái bẫy do Sô - Nhi giăng sẵn? 

-------------------------

Còn nữa

Cùng chuyên mục

Anh Lưu Quang Hà bên sản phẩm bê tông nghệ thuật của Công ty

'Chúa chổm' xứ Tuyên đúc nên cơ nghiệp

TP - Lưu Quang Hà vừa rời giảng đường đại học, bước chân khởi nghiệp liền bị quỵt tiền, phải vay nặng lãi để sống. Ở nhà, bố mắc ung thư phổi, gia đình khánh kiệt, khiến anh Hà nhiều đêm bật khóc. Nhưng rồi, anh đứng dậy, gây dựng công ty chuyên làm sản phẩm bê tông nghệ thuật – ngành nghề mà anh được học, doanh thu tiền tỷ, tạo việc làm cho gần 20 lao động. Anh còn là Bí thư Chi đoàn ở tổ dân phố.

Công an cơ sở tuyên truyền, vận động người dân xóa bỏ hủ tục nghi kỵ “cầm đồ thuốc độc” Ảnh: NN

'Bóng ma đồ độc' ám ảnh vùng cao Quảng Ngãi

TP - Ở một số bản làng miền núi Quảng Ngãi, hủ tục nghi kỵ “cầm đồ thuốc độc” vẫn âm ỉ tồn tại, len vào những mâu thuẫn đời thường, những cơn bệnh chưa được lý giải bằng khoa học. Từ một lời phán của thầy cúng, hàng xóm có thể thành kẻ thù, người vô tội bị cô lập, đánh đập, thậm chí mất mạng.

Cán bộ Trạm Y tế xã Buôn Đôn đi bộ đến từng hộ dân tại buôn Đrăng Phốk để tiêm vắc xin cho trẻ

'Cõng' vắc xin tìm trẻ giữa đại ngàn

TP - Không để người dân vất vả đưa con đến trạm y tế, vào ngày 16 hằng tháng, cán bộ y tế xã vùng xa tỉnh Đắk Lắk vượt hơn 20km đường rừng đều đặn mang vắc xin vào tận buôn. Chuyến đi của họ đã mang thêm một lớp bảo vệ đến với những đứa trẻ nơi vùng lõi rừng, từng ngày rút ngắn giữa dịch vụ y tế và người dân.

Giếng cổ được người dân tự hào giới thiệu với khách đến thăm đảo

Bí ẩn giếng cổ ở xã đảo Đà Nẵng

TP - Giữa vùng biển đảo quanh năm nắng gió, nơi từng giọt nước ngọt quý hơn vàng, hai giếng cổ dưới chân núi Bàn Than ở Tam Hải vẫn trong veo, mát lành qua hàng trăm năm.

Cựu chiến binh Nguyễn Duy Kháng và cô giáo HươngẢnh: Lê Văn Chương

Những người lính ở lại núi Dàng-Bài cuối: Trái tim cô giáo trẻ dành trọn tiếng "tít te"

TP - Tháng 2/1970, bên dòng sông Vệ (Hành Thịnh, Quảng Ngãi), những chiếc HU-1A còn gọi là tàu rọ liên tục quần đảo, gầm rít trên bầu trời. Giữa khói lửa chiến tranh, trái tim một cô giáo trẻ lại bị cuốn vào âm thanh “tít te” không ngừng của một cậu lính thông tin quê Thái Bình. “Cái này bí mật, không thể giải thích” – chàng lính Nguyễn Duy Kháng mỉm cười nói với cô giáo Nguyễn Thị Thanh Hương về công việc của mình.

Cựu chiến binh Lại Vũ Yên và bà Nguyễn Thị Bè, mối tình và đám cưới trong chiến tranh, giờ đây đã hơn 50 năm Ảnh: Lê Văn Chương

Những người lính ở lại núi Dàng-Bài 2: Mối tình người lính quân y và nữ du kích

TP - Trước năm 1975, địch xem xã Hành Thịnh là một trong những cái gai rất khó nhổ. Bởi đây là một xã đồng bằng của Quảng Ngãi nhưng lại có rất nhiều ngọn núi: núi Dàng, núi Đuôi Chuột, núi Rố, núi Gò Đồn, núi và rừng Ông Đương, gò Rú. Địa thế hiểm trở vốn là lợi thế của quân giải phóng và là vùng đất chết đối với quân đội chính quyền Sài Gòn. Y sĩ Lại Vũ Yên đã trải qua những ngày gian nan tại đây, sau đó kết hôn với cô du kích…

 Ông Trương Minh Hải, Tổ trưởng Tổ cộng đồng bảo vệ nguồn lợi thủy sản phường Hồng Ngự chăm sóc đàn cá tự nhiên Ảnh: Hoà Hội

'Ngôi nhà' của đàn cá trên sông Tiền

TP - Xuất phát từ ý tưởng giữ cá lại với dòng sông, người dân vùng đầu nguồn Hồng Ngự (Đồng Tháp) đã biến đoạn bờ kè bình dị thành “bến đỗ an toàn” của đàn cá hàng nghìn con. Cá được cho ăn, bảo vệ và sinh trưởng tự nhiên. Mô hình độc đáo này không chỉ góp phần bảo vệ nguồn lợi thủy sản mà còn đánh thức tình yêu thiên nhiên trong cộng đồng.

Chiến dịch 500 ngày đêm đang được tổ chức tại nghĩa trang liệt sĩ Hành Thịnh, xã Đình Cương. Trong số các liệt sĩ nằm lại, có nhiều người là đồng đội của vợ chồng ông Tân Ảnh: Lê Văn Chương

Những người lính ở lại núi Dàng: Mối tình lính DKB và cô y tá

TP - Cách đây hơn nửa thế kỷ, khi đất nước hòa bình, hầu hết những người lính gác lại súng gươm để trở về với quê nhà, mang theo ký ức của một thời hoa lửa. Thế nhưng, tại xã Hành Thịnh (nay là xã Đình Cương) nằm dưới chân núi Dàng- vùng căn cứ cách mạng của Quảng Ngãi, vẫn có những người lính ở lại. Đầu tháng 9 này, họ đang lặng lẽ dõi theo từng nhát cuốc của Đội tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ đang thực hiện Chiến dịch 500 ngày đêm.

Phiên chợ Sâm Ngọc Linh và dược liệu được tổ chức đều đặn mỗi tháng ở phố du lịch sầm uất của Đà Nẵng Ảnh: Giang Thanh

Quà quê kể chuyện Đà Nẵng

TP - Một tấm chiếu cói kể chuyện làng nghề, chai tinh dầu kể chuyện vùng dược liệu hay món đặc sản kể chuyện miền quê. Khi những món “quà quê” được đặt trong không gian trải nghiệm du lịch, câu chuyện về Đà Nẵng có cơ hội chạm vào du khách và theo họ đi xa hơn.

Gom rác đổi cháo sáng

Gom rác đổi cháo sáng

TPO - Từ những chai nhựa, vỏ lon, giấy vụn được gom lại từ mỗi gia đình, người dân xã Nghĩa Giang (tỉnh Quảng Ngãi) có thể đổi lấy cháo nóng. Những thứ từng bị xem là rác bỏ đi đang được biến thành nguồn quỹ để sẻ chia với người khó khăn.

Khát vọng hồi sinh nghề xưa của người trẻ Quảng Ngãi

Khát vọng hồi sinh nghề xưa của người trẻ Quảng Ngãi

TP - Từ những luống dâu ven sông Trà Khúc đến lò mật mía đỏ lửa, nhiều người trẻ ở Quảng Ngãi đang tìm cách đưa nghề truyền thống trở lại đời sống bằng tư duy mới. Không chỉ giữ nghề của cha ông, họ còn từng bước biến những giá trị văn hóa thành sản phẩm hàng hóa, tạo sinh kế và mở ra hướng phát triển mới cho quê hương.

Cồn Thanh Long trước lựa chọn nghiệt ngã: Giữ cồn hay đưa dân vào bờ?

Cồn Thanh Long trước lựa chọn nghiệt ngã: Giữ cồn hay đưa dân vào bờ?

TPO - Từ câu chuyện chực chờ bị ‘xóa sổ’ của cồn Thanh Long ở Vĩnh Long do sạt lở đã ngoài tầm kiểm soát, cho thấy giải pháp chống sạt lở cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long đang trở nên cấp bách, tốn kém. Đặc biệt, việc giảm khai thác cát sông đang ngày càng cần thiết để giảm sạt lở, xâm thực đất đai trù phú của vùng đồng bằng này.

Concert Thanh xuân thu hút khoảng 2 vạn bạn trẻ Ảnh: Như Ý

Chạm vào kí ức

TP - Vệt nắng chiều lóa trên những huân chương của cha nơi bức tường cũ, bừng lên trong tôi màu bất diệt của thanh xuân - sự tận hiến mãi mãi tuổi đôi mươi mà thời gian là kẻ đứng rìa. Và đêm nay, giữa sóng cuộn của tuổi trẻ, một lần nữa tôi cúi đầu tri ân. Đó là giai điệu giao hòa mang tên tình yêu Tổ quốc trong đêm Thanh xuân…

Mùa sạt lở bên dòng Cửa Lớn

Mùa sạt lở bên dòng Cửa Lớn

TPO - Mỗi mùa mưa, lũ về, những hộ dân sống ven sông Cửa Lớn, đoạn qua xã Đất Mới, tỉnh Cà Mau lại phải sống thấp thỏm với sạt lở. Có căn nhà bị “hà bá” nuốt trọn chỉ trong một đêm, có con đường bị dòng nước ngoạm mất, người dân phải tự tháo dỡ nhà, dựng cầu tạm để có lối đi.

Huyền thoại võ sáo dưới bóng trăng Phồn Xương

Huyền thoại võ sáo dưới bóng trăng Phồn Xương

TP - Dưới bóng trăng Phồn Xương, tiếng sáo sắt “Thiết địch thần phong” từng gắn với những năm tháng khởi nghĩa Yên Thế (tỉnh Bắc Ninh), nay đang được đánh thức, đưa võ sáo từ ký ức lịch sử trở thành di sản phát triển du lịch.