Đó là hàng trăm toà nhà hai mươi, ba mươi tầng với những kiểu dáng khác nhau góp phần làm cho bộ mặt của thành phố hiện đại và tươi trẻ. Như một kẻ tham lam, vừa từ sân bay Liu Ting về khách sạn, tôi đã bổ đi tìm mua một bản đồ giao thông và du lịch thành phố, và sau đó, như một gã du khách bụi, tôi trèo lên xe buýt, tôi lang thang đi bộ qua các ngóc ngách của những khu nhà từ thời công xã của tầng lớp dân nghèo.
Giống như Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Đông, những thành phố lớn của Trung Quốc mà tôi đã đến 10 năm trước, đường phố Thanh Đảo cũng nghiêm cấm xe máy và xe đạp. Rất hiếm hoi mới thấy một chiếc xe máy hoặc xe đạp đi trên làn đường dành cho người đi bộ. Ấy là xe của các anh bưu tá đưa thư và những người lao công có giấy phép đặc biệt.
Cả thành phố Thanh Đảo hơn 2,5 triệu nhân khẩu, bằng nội thành Hà Nội ta, chỉ lưu thông trên đường bằng ô tô, tàu hoả và xe điện bánh hơi. Đông nhất là taxi và xe buýt. Xe hàng ba, hàng tư nối đuôi nhau. Nghe nói, để cấm xe đạp và xe máy, ngoài việc mở rộng hệ thống đường sá, chính quyền thành phố đã có biện pháp bắt buộc cán bộ, đảng viên, học sinh, sinh viên… phải gương mẫu đi làm, đi học bằng xe buýt. Đây cũng là biện pháp hạn chế cán bộ sử dụng xe máy, xe đạp đi lang thang trong giờ hành chính.
Taxi và xe buýt Trung Quốc nói chung không đẹp và sang như xe Việt Nam ta. Toàn một loại taxi nội địa, sơn hai màu, dưới mà màu mận chín, trên nóc là trắng hoặc vàng nhạt, còn xe buýt thì đủ kiểu, có loại to như xe côngtennơ, hai tầng, có loại chỉ hai tư chỗ ngồi, cũng nội địa hết, trông rất nồi đồng, cối đá. Riêng hai binh chủng taxi và buýt đã chiếm lĩnh hầu như toàn bộ mặt đường, cộng với một nửa số xe tư nhân, cơ quan nhà nước nữa, tất cả nối đuôi nhau, trật tự và kỷ cương, lưu thông trên đường phố.
Tôi đếm trên bản đồ, thành phố bề ngang từ trung tâm ra sân bay chừng 20 km, từ Đông sang Tây chừng %) km mà có tới hơn 200 tuyến xe buýt. Loại xe buýt đi đường gần và các tuyến trong nội thành, hành khách có thẻ điện tử, như loại thẻ điện thoại công cộng, mỗi lần lên xe chỉ việc chìa thẻ trước hộp kiểm tra, thẻ sẽ bị trừ một số tiền tương ứng với một lần đi. Loại xe buýt đi đường dài, như tuyến du lịch lên núi Lão Sơn, du khách phải mua vé. Giá taxi và xe buýt ở Thanh Đảo cũng rẻ tương tự như ở Hà Nội. Chỉ cần 5 tệ, bằng 10 ngàn đồng của ta, là chu du được khắp thành phố.
Một điều rất lý thú là đa phần các tài xế xe buýt và taxi ở Thanh Đảo là phụ nữ. Ai cũng to cao, bề thế. Họ khiến tôi nghĩ đến Tôn Nhị Nương và Cố Đại Tẩu - hai nữ quái kiệt trong Thủy Hử. Lạ thật, ở cái vùng đất thần tiên này mà sao rất ít gặp người đẹp. Gương mặt phụ nữ thường cùng môtuýp to bè, thô và nặng nề. Bù lại, họ có nước da tuyệt vời, trắng, hây hây, và một phom người lý tưởng, ai cũng cao trên mét bảy, chân dài, mông ngực tràn đầy sắc dục đúng như tên gọi cuốn tiểu thuyết “Mông to vú lớn” của Mạc Ngôn mà các nhà biên dịch của ta đã thanh tao hoá đi thành “Báu vật của đời”.
Những ngày lang thang trên xe buýt và đi bộ tới mức các ngón chân sưng tấy lên, phải bọc giấy mềm mới đi giày được, tôi phát hiện ra hai điều lạ lùng ở Thanh Đảo.
Thứ nhất là thành phố này không có xe rác, xe tải. Kỳ lạ, hàng trăm ngôi nhà cao tầng, biệt thự cùng nhất tề xây dựng, sửa chữa, đất, cát vôi vữa, rác thải hàng núi mà sao tịnh không thấy một xe tải, xe vệ sinh nào chạy trên đường nhỉ? Tôi thử đi bộ tắt qua khu phố đang xây dựng gần đại lộ Hồng Công. Những ngôi nhà hơn chục tầng đang được thi công hối hả. Hàng chục cần cẩu, hàng trăm công nhân đang làm việc, nhưng tất cả đều được giấu kín trong những tấm vải bạt che, ít ai biết.
Vào quãng 2 giờ sáng, không ngủ được, từ tầng 15 khách sạn năm sao Regiency, tôi mở cửa sổ nhìn xuống đường. Và tôi đã hiểu ra. Bây giờ mới là kíp làm việc của xe tải, xe rác và những người lao công. Trong cái gió rét hun hút đới chí tuyến bắc đầu đông, tôi như nghe thấy tiếng chổi của chị lao công dưới đường phố kia. Ôi, hoá ra ở Thanh Đảo bây giờ vẫn như Hà Nội những năm sáu mươi của thế kỷ trước, người ta vẫn quét rác vào ban đêm. Bỗng nhớ câu thơ của Tố Hữu: “Đêm đêm, tiếng chổi tre, bên hè, chị quét…”. Đấy là phát hiện và cảm hứng của nhà thơ về một thời. Bây giờ các đường phố ở ta, người ta quét vào ban ngày. Lúc nào đường cũng bụi mù. Khách đi đường như bị ném đất, ném rác vào mặt.
Điều kỳ lạ thứ hai là một tuần ở Thanh Đảo nhưng hầu như tôi không thấy cảnh sát. Hay là họ ăn mặc dân sự, cũng sơ vin, complê như khách bộ hành để dễ bề trà trộn, theo dõi người đi đường? Tôi lại nhớ Hà Nội đến nao lòng. Chúng ta đàng hoàng sắc phục chứ đâu có phải nghi trang như họ? Chí ít mỗi ngã ba ngã tư đường phố “cắm” vài bộ sắc phục màu vàng cho nó bề thế. Ấy vậy mà tình trạng vi phạm giao thông vẫn không sao kể xiết, có tăng bao nhiêu sắc phục màu vàng cũng không xuể. Nhiều khi các đồng chí cảnh sát đành dùng kế mai phục.
Ở Thanh Đảo không có cảnh sát giao thông? Vì làm gì có xe máy xe đạp để cho họ bắt? Tất cả các loại xe lưu thông trên đường phố đều chỉ phải tuân thủ luật giao thông và theo tín hiệu biển báo, đèn đường.
Có một lực lượng tham gia giữ trật tự giao thông và vệ sinh đường phố mà tôi gặp ở công viên Trung Sơn, dọc đại lộ Đông Hải ven bờ biển và một số đường phố lớn. Ấy là lực lượng hưu trí, tuổi trên sáu mươi. Họ mặc quần áo xanh rêu, khoác gilê vàng phản quang, đội mũ mỏ vịt màu đỏ, tay cầm cờ. Cứ hai, ba trăm mét lại có một người.
Cùng với những người già, cả đàn ông và đàn bà, chắc hoàn cảnh khó khăn, hằng ngày cần mẫn đẩy xe cút kít đi nhặt rác, lá rụng trên các thảm cỏ, đội quân thuộc diện xóa đói giảm nghèo này làm nhiệm vụ các vệ sinh viên, trật tự viên và nhiều khi kiêm cả nhiệm vụ của cảnh sát đô thị. Tịnh không thấy các ông bà già ngồi ven hè phố bán chè chén, càng không hề thấy người bán vé số, cắt tóc, buôn bán vặt nhan nhản bên hè đường như ta.
Có lẽ bởi một cách quản lý, điều hành đô thị như thế mà tôi có cảm giác một mét vuông đất ở bất cứ nơi nào của Thanh Đảo cũng có bàn tay chăm chút của con người. Chớm đông giá rét mà chỗ nào cũng mướt xanh thảm cỏ. Một cây non mới trồng cũng được quấn rơm chống rét từ gốc lên đến ngọn, được đỡ ba bề cọc chống cho khỏi đổ vì gió mạnh. Ngay như một mẩu thông tin kiểu vấn nạn “khoan bê tông”, “đào giếng khoan” của ta, cũng được quy định một cách chi tiết.
Tôi chú ý tới những mảnh giấy, được in sẵn theo mẫu quy định, nhỏ xinh như nhãn vở học trò, dán rải rác dưới gót chân người đi bộ. Đó chính là những tờ thông tin, dán rải rác dưới gót chân người đi bộ. Đó chính là những tờ thông tin: Khoan bê tông, đào giếng, sửa nhà vệ sinh… kèm theo các số điện thoại và địa chỉ cần giao dịch.
Hóa ra cái nền tảng đô thị một trăm năm trước đã được con người thời hiện đại hoá tiếp thu và nâng lên một tầm mới. Thú vị biết bao là được thả bộ dọc đường bờ biển, phóng tít tầm mắt qua biển Hoàng Hải và ngỡ như nhìn thấy đất nước Đại Hàn ở sau vùng nước mờ mịt kia.
Khác hẳn với các đường phố bờ biển của ta, đường chưa làm xong, các cơ quan, tư nhân đã xí phần, xây nhà nghỉ, biệt thự để giành giật mặt đường, mở quán kinh doanh, ở Thanh Đảo, hàng chục cây số dọc bờ biển, không một cơ quan, cá nhân nào được chiếm dụng mặt tiền. Tất cả chỉ được quyền xây dựng trong tường rào.
Từ tường rào ra đến đường đi bộ, rồi đại lộ, là một thảm cỏ và dải cây xanh, điểm xuyết những tượng vườn, những cụm non bộ điệu đàng như muốn hút hồn người. Thả bộ dọc dải công viên biển dài hàng chục cây số, khác nào đi giữa thiên đường. Câu hát dựa theo thơ của Trần Đăng Khoa cứ ngân lên: “Biển một bên và em một bên”. Không có em đã thấy sướng, có em chắc sẽ thành tiên. Thảo nào hàng trăm cặp tình nhân Thanh Đảo cứ đến mùa cưới là kéo nhau ra bờ biển để quay phim, chụp ảnh, ghi lại những khoảnh khắc hạnh phúc nhất của đời người…
Thanh Đảo, 11/2004