Từ những chiếc điện thoại nghìn USD đến mạng di động bình dân
Theo ông Mai Liêm Trực, nguyên Thứ trưởng Bộ Bưu chính Viễn thông, giai đoạn 1991-1993, châu Âu đã triển khai công nghệ di động tế bào số GSM. Tuy nhiên, GSM khi đó vẫn đang trong quá trình hoàn thiện và chưa được thương mại hóa rộng rãi.
Trong bối cảnh đó, Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện Đặng Văn Thân cùng lãnh đạo ngành Bưu chính Viễn thông quyết định lựa chọn công nghệ GSM, hướng tới một mạng lưới hiện đại và đồng bộ, từ mạng nội hạt đến truyền dẫn đều sử dụng công nghệ số.
Đây là một quyết định được đưa ra khi GSM vẫn còn nhiều hạn chế. Công nghệ chưa hoàn thiện, việc thương mại hóa gặp khó khăn, thiết bị đầu cuối khan hiếm và giá lên tới hàng nghìn USD mỗi chiếc.
Việt Nam khi đó thậm chí cân nhắc phương án sử dụng công nghệ di động vệ tinh, vốn có ưu thế về khả năng phủ sóng và đang được đầu tư mạnh tại Mỹ, châu Âu. Tuy nhiên, sau khi cân nhắc về thị trường, công nghệ, thiết bị đầu cuối và khả năng quản lý, Tổng cục Bưu điện quyết định xây dựng mạng thông tin di động mặt đất GSM.
Năm 1992, Tổng cục Bưu điện bắt đầu đàm phán với các đối tác để chuẩn bị triển khai GSM trên phạm vi toàn quốc. Ngày 16/4/1993, MobiFone - mạng di động đầu tiên của Việt Nam - chính thức đi vào hoạt động. Đến năm 1994, mạng di động GSM được VNPT thiết lập và cung cấp dịch vụ tại một số thành phố lớn.
Thời điểm đó, điện thoại di động vẫn là khái niệm xa lạ với phần lớn người dân. Hạ tầng còn hạn chế, kinh nghiệm xây dựng và khai thác mạng chưa có, trong khi thiết bị đầu cuối và cước dịch vụ đều rất đắt đỏ.
Năm 1996, VinaPhone ra đời, sau đó là S-Fone. Tuy nhiên, thị trường di động Việt Nam chỉ thực sự bùng nổ khi Viettel chính thức nhập cuộc.
Ngày 15/10/2004, Viettel khai trương mạng di động với đầu số 098, trở thành nhà mạng thứ 4 tại Việt Nam. Chỉ sau một năm, Viettel đạt mốc 1 triệu thuê bao - con số mà các mạng di động trước đó phải mất hơn 10 năm mới đạt được. Sau 4 năm, Viettel vươn lên trở thành nhà mạng số 1 Việt Nam với 20 triệu thuê bao.
Khi Viettel gia nhập thị trường, chỉ khoảng 5% người dân Việt Nam sử dụng di động và dịch vụ này còn khá đắt đỏ, chủ yếu dành cho nhóm có thu nhập cao. Nhưng chỉ sau 3 năm, điện thoại di động đã chuyển từ một dịch vụ đắt đỏ thành dịch vụ bình dân, mở rộng cơ hội tiếp cận cho đông đảo người dân.
Cánh sóng thay cánh thư, kết nối những nơi xa nhất
Giá trị của mạng di động không chỉ nằm ở số lượng thuê bao hay doanh thu của các nhà mạng. Với nhiều người dân, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, một cột sóng di động còn đồng nghĩa với khả năng kết nối và thay đổi cuộc sống.
Những chiến sĩ Đồn Biên phòng 739 ở khu vực Tây Nguyên từng kể rằng, khi chưa có sóng di động, món ăn tinh thần từ phương xa chủ yếu là những lá thư và chiếc đài bán dẫn. Cứ gần Tết, các chiến sĩ lại viết thư gửi về gia đình và chờ đến Tết mới nhận được thư hồi đáp.
Đến năm 2006, Viettel xây dựng trạm BTS tại khu vực này để phục vụ thông tin liên lạc cho bộ đội biên phòng. Những cuộc gọi về gia đình trong dịp Tết đã trở thành một phần đời sống tinh thần của các chiến sĩ nơi biên giới.
Tại Trường Sa, sự xuất hiện của sóng di động cũng dần thay thế những phong bì thư và con tem vốn là món đồ không thể thiếu trong các chuyến quà Tết gửi tới các chiến sĩ.
Điện thoại di động thậm chí trở thành phương tiện cứu hộ trong những tình huống sinh tử.
Giáp Tết năm 2018, tại đảo Phú Quý, Bình Thuận, một ngư dân nhận được cuộc gọi đi cứu hộ tàu cá gặp nạn. Trong quá trình ứng cứu, chính con tàu của nhóm ngư dân bị sự cố và chìm. Giữa lúc nguy cấp, người chồng của chị Nguyễn Thị Lan tìm thấy chiếc điện thoại "đặc công nước" có khả năng chống nước và gọi về nhà thông báo vị trí gặp nạn.
Cuộc gọi đã giúp gia đình báo cho chính quyền, để lực lượng cứu hộ kịp thời tiếp cận và đưa những người gặp nạn trở về.
Một trường hợp khác xảy ra với tàu cá BD 763 tại khu vực Trường Sa năm 2009. Khi tàu bị thủng đáy và chìm dần gần Đảo Đá Tây, các ngư dân đã sử dụng thiết bị Icom để cầu cứu nhưng những tàu khác ở quá xa.
Trong lúc chuẩn bị rời tàu, một thành viên phát hiện chiếc điện thoại sử dụng mạng Viettel vẫn có vạch sóng. Từ cuộc điện thoại đó, các ngư dân thông báo được tọa độ tàu gặp nạn về đất liền. Đến 5h sáng ngày 1/4/2009, cả 8 ngư dân được các chiến sĩ Đảo Đá Tây đưa lên bờ an toàn.
Những câu chuyện ấy cho thấy một giá trị đặc biệt của hạ tầng viễn thông: kết nối không chỉ phục vụ nhu cầu liên lạc thường ngày mà trong nhiều trường hợp còn tạo ra "đường dây" giữa những nơi tưởng như bị cô lập với đất liền.
Từ xóa "vùng lõm" hạ tầng đến mở cánh cửa kinh tế số
Nếu 2G đưa điện thoại di động đến với đông đảo người dân thì các thế hệ mạng sau đó đang đưa Internet, thương mại điện tử và các dịch vụ số đi sâu hơn vào đời sống nông thôn.
Những năm gần đây, hạ tầng viễn thông tại các vùng cao Bắc Trung Bộ được đầu tư tương đối đồng bộ. Sóng 4G phủ đến nhiều bản làng xa xôi, từng bước xóa các "vùng lõm sóng".
Cùng với hạ tầng, các tổ công tác, tổ chuyển đổi số về tận bản làng hướng dẫn người dân sử dụng công nghệ, Internet và các nền tảng số.
Với đồng bào dân tộc thiểu số, điện thoại thông minh không còn đơn thuần để liên lạc mà trở thành công cụ sản xuất, kinh doanh. Facebook và các nền tảng mạng xã hội trở thành những "chợ online", giúp người dân đưa sản phẩm đến khách hàng ở nhiều địa phương.
Tại bản Còi Đá, ý tưởng phát triển du lịch của gia đình chị Đoan bắt đầu sau một lớp tập huấn về du lịch cộng đồng dành cho phụ nữ Bru Vân Kiều năm 2023. Vợ chồng chị xây dựng hai nhà chòi bên suối để làm điểm du lịch, sau đó chủ động quảng bá hình ảnh trên mạng xã hội.
Những video, hình ảnh về cảnh quan, món ăn truyền thống được chia sẻ rộng rãi. Từ chỗ chỉ phục vụ khách địa phương và trong tỉnh, điểm du lịch Suối Bản đã thu hút khách từ các thành phố lớn và cả khách quốc tế.
Mô hình này không chỉ tạo thu nhập cho gia đình mà còn tạo việc làm cho 5 lao động trong bản, đồng thời mở thêm đầu ra cho các sản phẩm địa phương như nếp than, bánh chì, gà, rau.
Tại Lai Châu, bản Sin Suối Hồ cũng đang cho thấy cách công nghệ có thể hỗ trợ du lịch cộng đồng. Những người trẻ trong bản sử dụng Facebook, TikTok để chụp ảnh, quay video và quảng bá điểm đến. Du khách còn có thể sử dụng bản đồ du lịch số được lắp đặt ngay trong bản để tìm hiểu các điểm đến, văn hóa, phong tục và trang phục đặc trưng.
Ở Bình Lư, chuyển đổi số tiếp tục đi sâu vào một lĩnh vực khác: tiêu thụ nông sản.
Miến dong Bình Lư, Lai Châu từng đối mặt với bài toán "được mùa mất giá". Có thời điểm giá bột miến chỉ còn 16.000 đồng/kg, người sản xuất chủ yếu bán buôn cho thương lái và khó tiếp cận trực tiếp người tiêu dùng ở xa.
Theo ông Vàng Văn Ngọc, Chủ tịch Hội Nông dân xã Bình Lư, có thời điểm một hộ bán livestream trên TikTok Shop được cả tấn miến, trong khi phương thức truyền thống trước đây chỉ tiêu thụ khoảng 10-20kg/ngày.
Từ đây, người dân bắt đầu chuyển từ tư duy "sản xuất xong chờ thương lái đến mua" sang "làm ra sản phẩm và tự bán tới người dùng cả nước".
Các tổ công nghệ số cộng đồng được hình thành. Người dân học cách sử dụng smartphone để quay video, livestream, kể câu chuyện về sản phẩm và giới thiệu quy trình làm miến dong truyền thống. Người trẻ hướng dẫn những người trung niên, phụ nữ và người lớn tuổi tiếp cận phương thức bán hàng mới.
Viettel Post cũng tham gia hỗ trợ tiêu thụ nông sản tại Lai Châu. Theo ông Trần Việt Huy, Giám đốc Viettel Post Lai Châu, chiến dịch Hành trình nông sản tại Sìn Hồ đã giúp tiêu thụ hơn 300 tấn khoai sâm. Khi đưa lên sàn, giá trị sản phẩm tăng gấp ba và sản lượng tiêu thụ cũng gấp ba so với trước.
Không chỉ hỗ trợ bán hàng, doanh nghiệp còn cung cấp dịch vụ logistics từ thu gom, đóng gói đến vận chuyển, cùng hạ tầng truyền thông phục vụ hoạt động kinh tế số.
Đáng chú ý, có phiên livestream do TikToker Cô Ba Hồng thực hiện đã tiêu thụ 4 tấn nông sản cho bà con tại Lai Châu. Hoạt động livestream được triển khai trên hạ tầng 5G do Viettel cung cấp.
Từ một chiếc điện thoại phục vụ những cuộc gọi đầu tiên, hạ tầng di động đang trở thành nền tảng cho những hoạt động kinh tế mới.
2G đã hoàn thành sứ mệnh phổ cập kết nối. 4G đưa Internet đến gần hơn với người dân. Và 5G đang mở ra một bước chuyển khác: biến kết nối tốc độ cao thành hạ tầng phục vụ sản xuất, thương mại điện tử, du lịch và những mô hình kinh tế số ngay tại các bản làng.