Đi tìm nghĩa sĩ Cần Giuộc

Đi tìm nghĩa sĩ Cần Giuộc
TP - Chùa Tôn Thạnh là nơi Nguyễn Đình Chiểu đã tá túc mà viết thiên anh hùng ca “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”. Ở Cần Giuộc quê vợ, Nguyễn Đình Chiểu được thờ như vị thần. Không tài liệu nào chép và cũng không ai nhớ tên của gần 30 nghĩa sỹ Cần Giuộc.
Nhân dân Cần Giuộc thờ Nguyễn Đình Chiểu. Ảnh: T.N.A
Nhân dân Cần Giuộc thờ Nguyễn Đình Chiểu. Ảnh: T.N.A.

Tông Thạnh hay Tôn Thạnh?

Sư tổ Viên Ngộ thuộc dòng Thiền Lâm Tế đời thứ 39, pháp húy gọi là Viên Ngộ, nhân dân thường gọi là ông Tăng Ngộ. Tên thực Nguyễn Ngọc Dót. Sư Viên Ngộ đã xây chùa Tôn Thạnh.

Tôi đến thăm chùa Tôn Thạnh vào một ngày mùa hè, đường sá khô ráo, cây cỏ xanh tốt. Chùa thuộc xã Mỹ Lộc, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An, ngay bên con đường nhựa khang trang.

Tên ngôi chùa vẫn còn chịu nhiều lầm lẫn. Sách Ngữ Văn lớp 11 hiện nay chép văn bản “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” cho học sinh là: “Chùa Tông Thạnh năm canh ưng đóng lạnh”.

Các sư cho biết: “Ban đầu sư tổ Viên Ngộ đặt tên chùa là chùa Lan Nhã. Dân ta gọi nôm na là chùa Ông Ngộ. Sau chùa đổi tên thành chùa Tông Thạnh, nhưng từ năm 1841, vì kỵ húy tên vua Thiệu Trị là Miên Tông nên chùa đã đổi tên là Tôn Thạnh rồi”.

Chúng tôi ghé thăm nhà thơ Châu Anh Phụng, đã nhiều năm nghiên cứu về Nguyễn Đình Chiểu. Bà hiện ở cách chùa không xa: “Văn bản Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc bằng chữ Hán Nôm sưu tầm được tại địa phương ghi rõ là Chùa Tôn Thạnh năm canh ưng đóng lạnh”.

Hàng trăm năm đã trôi qua, nhưng các anh linh của người nghĩa sĩ yêu nước vẫn được thờ tại chùa Tôn Thạnh. Bên hiên chùa đặt một tấm bài vị bằng đá trên chiếc bàn đơn sơ. Bài vị có ghi dòng chữ: “Cung thỉnh nghĩa sĩ Cần Giuộc chư vị”.

Nhà sư giải thích: “Theo phong tục truyền thống, vong linh những người chiến sĩ cũng như đồng bào tử nạn và thập loại cô hồn được thờ ở ngoài trời chứ không thờ trong điện, trong nhà”.

Nguyễn Đình Chiểu đã viết văn tế như thế nào?

Người ta thường gọi nhà thơ là “cụ đồ Chiểu”, nhưng thật ra ông sinh năm 1822 và sáng tác bài văn tế lịch sử vào năm 1861, khi mới 39 tuổi. Ông lấy vợ năm 1854 bấy giờ đã được 7 năm, vợ ông sinh năm 1835 lúc ấy 26 tuổi.

“Câu chuyện nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu về quê vợ chạy giặc, đem theo vợ con, nhưng sách chép là sáng tác Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc trong chùa, vậy sự tình như thế nào?” - tôi đem băn khoăn hỏi các vị sư và người hiểu biết ở địa phương.

Bia tưởng niệm Nguyễn Đình Chiểu tại chùa Tôn Thạnh
Bia tưởng niệm Nguyễn Đình Chiểu tại chùa Tôn Thạnh.

Bà Châu Anh Phụng nói: “Nơi đây là quê vợ của Nguyễn Đình Chiểu. Tôi đã điền dã và biết được khi Nguyễn Đình Chiểu cùng vợ về thì nhà thơ vào trong chùa Tôn Thạnh sống, tiện việc gặp gỡ các lãnh tụ của nghĩa binh, bàn chuyện chống giặc. Chùa là nơi nhiều người lui tới, giặc không nghi ngờ. Vợ ông thì ở ngôi nhà nhỏ cạnh chùa, chăm sóc con cái”.

Đại đức Thích Tắc Nhàn, phó trụ trì chùa Tôn Thạnh kể: “Các sư đời trước truyền lại là Nguyễn Đình Chiểu về ở trong chùa viết sách, bốc thuốc cứu dân không lấy tiền, bàn bạc việc cứu nước với các nghĩa quân”.

“Nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu ở trong chùa ba năm, từ năm 1859 đến năm 1861. Khi về chùa, ông nhuận sắc nhiều tác phẩm của mình và cho đóng thành cuốn - Đại đức Thích Tắc Nhàn nói - Đêm 16- 12- 1861, nghĩa quân khởi sự từ đây đi đánh đồn Pháp. Trận đánh thu nhiều thắng lợi nhưng một số quân ta đã hy sinh. Nguyễn Đình Chiểu cảm kích mà làm bài văn tế ấy”.

Sau đó, tránh sự khủng bố của giặc, ông đã rời chùa về huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre tiếp tục viết các tác phẩm khác.

Bà Châu Anh Phụng nói: “Khi vào chùa, nhà thơ đã mù nên có những người giúp việc ghi lại các sáng tác của cụ, giúp cụ trong chuyện cấp thuốc chữa bệnh cứu dân. Thật may mắn làm sao tôi đã tìm được nhà của người thư ký ấy. Dĩ nhiên ông ta cũng đã qua đời từ lâu rồi. Nhưng chính tại gia đình này tôi tìm thấy bản chép tay Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc vô cùng quý giá”.

Bài văn tế bị bỏ sót một câu

Nhiều tài liệu ghi bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc gồm 30 câu văn bền ngẫu. Sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 11, in tháng 7-2012, dẫn tài liệu theo sách Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, Nxb Văn học Giải phóng, TPHCM, 1976, cũng cung cấp cho học sinh bài văn tế có 30 câu.

Tiếp tôi trong một tịnh xá hoang tàn, nhà thơ Châu Anh Phụng nói: “Theo văn bản Hán Nôm mà chúng tôi sưu tầm và lưu trữ được, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc không phải 30 câu mà 31 câu”.

Bản văn cổ bằng chữ Hán Nôm, bà cho biết “hiện tôi đang gửi ngân hàng bảo quản, chờ dịp thuận lợi sẽ trao tặng cho nhà nước”. Bà cung cấp cho chúng tôi văn bản Hán Nôm đã được bà cho in ấn và dịch với đầy đủ 31 câu.

Câu văn bị bỏ sót là câu thứ 28 của tác phẩm, ngay sau đoạn: Cha ông ta còn ở Đồng Nai, ai cứu một phường con đỏ. Câu thứ 28 nguyên văn như sau:

Sông Cần Giuộc cỏ cây nhuốm lệ, thương là thương kẻ tử vô cô

Chợ Trường Bình phố xá bỏ hoang, giận là giận người sanh bất võ

Chợ Trường Bình là chợ địa phương, gần chùa Tôn Thạnh. Sự lặp lại khung cảnh đau xót của người dân địa phương trước sự mất mát hy sinh, chắc hẳn đã có dụng ý sâu xa của tác giả bài văn tế.

Đi tìm nghĩa sĩ

Xã Mỹ Lộc, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An hiện nay hình thành dựa trên hai thôn cổ là thôn Mỹ Lộc và thôn Thanh Ba. Hai thôn liền kề nhau.

Theo tài liệu của đình Tích Đức bên sông Cần Giuộc, dân cư vùng này gồm 15 dòng họ: Trương, Đặng, Đỗ, Nguyễn, Tô, Rạch, Hà, Huỳnh, Công, Phan, Châu, Ngô, Lê, Phạm, Dương.

Những bậc tiền hiền đều là quan quân của chúa Nguyễn cử vào khai phá đất Cần Giuộc. Đa số các dòng họ đến từ các tỉnh miền Trung, từ Quảng Bình đến Bình Định, từ cuối thế kỷ 17.

Bàn thờ các nghĩa sĩ Cần Giuộc ở chùa Tôn Thạnh
Bàn thờ các nghĩa sĩ Cần Giuộc ở chùa Tôn Thạnh.

Tháng 12- 1859 Pháp đem tàu tiến vào đánh thành Gia Định. Hộ đốc thành Gia Định là Võ Duy Ninh kháng cự không nổi, lui quân về Cần Giuộc và ông đã tự tử tại đây.

Nguyễn Đình Chiểu cũng rời Gia Định về quê vợ ở Mỹ Lộc, Cần Giuộc, cùng quan quân tổ chức chiến đấu. Trương Định đứng lên lãnh đạo nghĩa quân, phong ông Bùi Quang Diệu làm đốc binh, thường chọn chùa Tôn Thạnh làm nơi chỉ huy. Giặc Pháp huy động quân đến Cần Giuộc để tiêu diệt quân ta. Trên chúng đóng đồn, dưới sông có tàu chiến.

Vợ nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu là Lê Thị Điền, nghĩ ra cách đổ trái mù u ra đường, để khi kỵ binh giặc lao tới thì trượt ngã, quân ta xông ra tiêu diệt.

Ngày 16 -12-1861, Bùi Quang Diệu dẫn quân tấn công đồn Cần Giuộc, đốt cháy nhà dạy đạo, đâm bị thương giám đốc dân sự người Pháp là Dumont (theo bà Châu Anh Phụng thì sau đó viên quan này cũng tử vong), tiêu diệt một số lính Mã Tà, Ma ní.

Nghĩa quân cũng thiệt hại. Theo Huỳnh Tịnh Của (Quốc Âm Thi Tập) thì tổn thất 25 người. Theo tuần phủ Gia Định là Đỗ Quang, nghĩa quân hy sinh 27 người. Sách giáo khoa Ngữ Văn 11 chẳng biết lấy nguồn tư liệu nào, đưa ra con số thấp hơn “Nghĩa quân hy sinh khoảng 20 người”. Tên tuổi các liệt sĩ là ai, các tài liệu đều không ghi rõ.

Sách “Lịch sử đấu tranh cách mạng và xây dựng của Đảng bộ - Nhân dân xã Mỹ Lộc” in năm 2005 ghi rằng trong số nghĩa quân tử trận “có nhiều người quê ở xã Mỹ Lộc ngày nay. Cho đến bây giờ con cháu của họ vẫn giữ lệ giỗ chung vào rằm tháng 11 hằng năm”. Tài liệu cũng không nói tên các liệt sĩ.

Tôi tìm đến đình Mỹ Lộc và được gặp các vị cao niên ở đây. Các cụ cho biết trong đình hiện thờ Nguyễn Đình Chiểu như một vị thần. Tuy nhiên, ông Út làm thủ từ và các cụ đều nói: “Danh sách các liệt sĩ nghĩa binh Cần Giuộc, vì thời gian trôi qua quá lâu, không ai nhớ được nữa”.

“Đình làng có từ thời vua Gia Long, nhưng mấy lần bị giặc phá, sắc phong bị đốt hết. Đến tên của vị Thành Hoàng làng thờ trong đình này, giờ chúng tôi còn không biết, nói gì tên các nghĩa quân” – ông Út ngậm ngùi. Ngoại trừ Nguyễn Đình Chiểu, các vị thần được thờ trong đình Mỹ Lộc đều khuyết danh cả.

Cụ Thơm, từng tốt nghiệp trường Mỹ thuật Gia Định nói: “Thi hài các nghĩa quân lúc ấy được mai táng trọng thể và chôn cất trong nghĩa trang. Sau khi giặc chiếm được nước ta, chúng đã đào nghĩa trang, lấy đất đắp đồn, xương cốt nghĩa quân ngổn ngang hết cả. Nơi ấy, còn lại một cái ao sâu hàng trăm năm không ai dám xâm phạm”.

Tôi muốn tới thăm cái ao lịch sử ấy, thì nhà nghiên cứu Châu Anh Phụng nói: “Ao đã bị người ta lấp mất để xây nhà rồi, còn đâu mà tới”.

Bà nói: “Dân chúng rất thắc mắc. Các vị ở huyện bảo với tôi, đô thị đã phát triển rồi, phải quy hoạch cho khang trang hơn chứ. Chúng tôi đang triển khai xây dựng khu tưởng niệm nghĩa sĩ Cần Giuộc với tổng diện tích xây dựng khoảng 1.800m2, năm 2013 sẽ khánh thành, cô Phụng cứ yên tâm”(!)

8 - 2012

Cùng chuyên mục

Tượng đài Nguyễn Tất Thành – Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Trường Quốc học Huế Ảnh: QH Huế

130 năm trường Quốc học Huế: Ngôi trường của tuấn kiệt, anh thư

TP - Trong nhiều lần trò chuyện với thạc sĩ Sử học Nguyễn Đình Dũng, người từng dạy môn lịch sử ở Đại học Huế và cũng từng công tác tại Bảo tàng Hồ Chí Minh TP Huế, thường nghe anh nói rằng: “Trường Quốc học Huế là ngôi trường vĩ đại, là chiếc nôi đào tạo lớp lớp hiền tài đóng góp rất lớn cho lịch sử đất nước. Họ đích thực là những tuấn kiệt, anh thư. Trong đó có vai trò đặc biệt quan trọng của người học sinh Nguyễn Sinh Côn, sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại”.

Rắn độc và rừng hoang đã 'bỏ bùa' họ như thế đó

Rắn độc và rừng hoang đã 'bỏ bùa' họ như thế đó

TPO - Suốt nhiều năm, thỉnh thoảng tôi vẫn được những vị khách phương xa, trong đó có cả khách Âu - Mỹ, nhờ dẫn đến những khu nhà hàng đặc sản thịt rắn như Lệ Mật để “thử món lạ”. Có những nhà báo châu Âu quyết tâm trải nghiệm đến cùng, giá cả chẳng thành vấn đề, cứ như thể đã đặt chân đến Hà Nội mà chưa nếm thịt rắn thì chuyến đi vẫn còn thiếu một điều gì đó. Vậy mà, khi tận mắt thấy quả tim rắn vẫn còn đập trong chiếc cốc thủy tinh, bên cạnh là thứ tiết đỏ au được khuấy bằng một cọng sả trắng nõn, không ít người bỗng chốc đổi ý. Họ lịch sự xin phép được dừng lại ở mức “chiêm ngưỡng”, nhường phần “thưởng thức” cho những người can đảm hơn.

Ông Nguyễn Hồng Quang tỉ mỉ, chăm chút từng sản phẩm mới

Khắc khoải về làng gốm cổ Hương Canh

TP - Từng có gần 400 hộ làm nghề, gốm Hương Canh (xã Bình Nguyên, tỉnh Phú Thọ) nay chỉ còn 4 hộ bền bỉ giữ lửa cho nghề gốm cổ. Được tạo nên từ nguồn đất trầm tích đặc biệt của địa phương, dòng gốm sành không men nổi tiếng bởi độ bền chắc và sắc màu trầm mộc mạc đang đối mặt với những khó khăn về đầu ra và nguy cơ thiếu người kế nghiệp.

Anh Lưu Quang Hà bên sản phẩm bê tông nghệ thuật của Công ty

'Chúa chổm' xứ Tuyên đúc nên cơ nghiệp

TP - Lưu Quang Hà vừa rời giảng đường đại học, bước chân khởi nghiệp liền bị quỵt tiền, phải vay nặng lãi để sống. Ở nhà, bố mắc ung thư phổi, gia đình khánh kiệt, khiến anh Hà nhiều đêm bật khóc. Nhưng rồi, anh đứng dậy, gây dựng công ty chuyên làm sản phẩm bê tông nghệ thuật – ngành nghề mà anh được học, doanh thu tiền tỷ, tạo việc làm cho gần 20 lao động. Anh còn là Bí thư Chi đoàn ở tổ dân phố.

Công an cơ sở tuyên truyền, vận động người dân xóa bỏ hủ tục nghi kỵ “cầm đồ thuốc độc” Ảnh: NN

'Bóng ma đồ độc' ám ảnh vùng cao Quảng Ngãi

TP - Ở một số bản làng miền núi Quảng Ngãi, hủ tục nghi kỵ “cầm đồ thuốc độc” vẫn âm ỉ tồn tại, len vào những mâu thuẫn đời thường, những cơn bệnh chưa được lý giải bằng khoa học. Từ một lời phán của thầy cúng, hàng xóm có thể thành kẻ thù, người vô tội bị cô lập, đánh đập, thậm chí mất mạng.

Cán bộ Trạm Y tế xã Buôn Đôn đi bộ đến từng hộ dân tại buôn Đrăng Phốk để tiêm vắc xin cho trẻ

'Cõng' vắc xin tìm trẻ giữa đại ngàn

TP - Không để người dân vất vả đưa con đến trạm y tế, vào ngày 16 hằng tháng, cán bộ y tế xã vùng xa tỉnh Đắk Lắk vượt hơn 20km đường rừng đều đặn mang vắc xin vào tận buôn. Chuyến đi của họ đã mang thêm một lớp bảo vệ đến với những đứa trẻ nơi vùng lõi rừng, từng ngày rút ngắn giữa dịch vụ y tế và người dân.

Giếng cổ được người dân tự hào giới thiệu với khách đến thăm đảo

Bí ẩn giếng cổ ở xã đảo Đà Nẵng

TP - Giữa vùng biển đảo quanh năm nắng gió, nơi từng giọt nước ngọt quý hơn vàng, hai giếng cổ dưới chân núi Bàn Than ở Tam Hải vẫn trong veo, mát lành qua hàng trăm năm.

Cựu chiến binh Nguyễn Duy Kháng và cô giáo HươngẢnh: Lê Văn Chương

Những người lính ở lại núi Dàng-Bài cuối: Trái tim cô giáo trẻ dành trọn tiếng "tít te"

TP - Tháng 2/1970, bên dòng sông Vệ (Hành Thịnh, Quảng Ngãi), những chiếc HU-1A còn gọi là tàu rọ liên tục quần đảo, gầm rít trên bầu trời. Giữa khói lửa chiến tranh, trái tim một cô giáo trẻ lại bị cuốn vào âm thanh “tít te” không ngừng của một cậu lính thông tin quê Thái Bình. “Cái này bí mật, không thể giải thích” – chàng lính Nguyễn Duy Kháng mỉm cười nói với cô giáo Nguyễn Thị Thanh Hương về công việc của mình.

Cựu chiến binh Lại Vũ Yên và bà Nguyễn Thị Bè, mối tình và đám cưới trong chiến tranh, giờ đây đã hơn 50 năm Ảnh: Lê Văn Chương

Những người lính ở lại núi Dàng-Bài 2: Mối tình người lính quân y và nữ du kích

TP - Trước năm 1975, địch xem xã Hành Thịnh là một trong những cái gai rất khó nhổ. Bởi đây là một xã đồng bằng của Quảng Ngãi nhưng lại có rất nhiều ngọn núi: núi Dàng, núi Đuôi Chuột, núi Rố, núi Gò Đồn, núi và rừng Ông Đương, gò Rú. Địa thế hiểm trở vốn là lợi thế của quân giải phóng và là vùng đất chết đối với quân đội chính quyền Sài Gòn. Y sĩ Lại Vũ Yên đã trải qua những ngày gian nan tại đây, sau đó kết hôn với cô du kích…

 Ông Trương Minh Hải, Tổ trưởng Tổ cộng đồng bảo vệ nguồn lợi thủy sản phường Hồng Ngự chăm sóc đàn cá tự nhiên Ảnh: Hoà Hội

'Ngôi nhà' của đàn cá trên sông Tiền

TP - Xuất phát từ ý tưởng giữ cá lại với dòng sông, người dân vùng đầu nguồn Hồng Ngự (Đồng Tháp) đã biến đoạn bờ kè bình dị thành “bến đỗ an toàn” của đàn cá hàng nghìn con. Cá được cho ăn, bảo vệ và sinh trưởng tự nhiên. Mô hình độc đáo này không chỉ góp phần bảo vệ nguồn lợi thủy sản mà còn đánh thức tình yêu thiên nhiên trong cộng đồng.

Chiến dịch 500 ngày đêm đang được tổ chức tại nghĩa trang liệt sĩ Hành Thịnh, xã Đình Cương. Trong số các liệt sĩ nằm lại, có nhiều người là đồng đội của vợ chồng ông Tân Ảnh: Lê Văn Chương

Những người lính ở lại núi Dàng: Mối tình lính DKB và cô y tá

TP - Cách đây hơn nửa thế kỷ, khi đất nước hòa bình, hầu hết những người lính gác lại súng gươm để trở về với quê nhà, mang theo ký ức của một thời hoa lửa. Thế nhưng, tại xã Hành Thịnh (nay là xã Đình Cương) nằm dưới chân núi Dàng- vùng căn cứ cách mạng của Quảng Ngãi, vẫn có những người lính ở lại. Đầu tháng 9 này, họ đang lặng lẽ dõi theo từng nhát cuốc của Đội tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ đang thực hiện Chiến dịch 500 ngày đêm.

Phiên chợ Sâm Ngọc Linh và dược liệu được tổ chức đều đặn mỗi tháng ở phố du lịch sầm uất của Đà Nẵng Ảnh: Giang Thanh

Quà quê kể chuyện Đà Nẵng

TP - Một tấm chiếu cói kể chuyện làng nghề, chai tinh dầu kể chuyện vùng dược liệu hay món đặc sản kể chuyện miền quê. Khi những món “quà quê” được đặt trong không gian trải nghiệm du lịch, câu chuyện về Đà Nẵng có cơ hội chạm vào du khách và theo họ đi xa hơn.