Khúc bi tráng của vị tướng đầu tiên - Kỳ 2

Khúc bi tráng của vị tướng đầu tiên - Kỳ 2
TP - Có thể nói, nhân vật được mô tả trong bản Thông báo số 8801-C của Rô-be Pê-rô-sơ, đúng là Phùng Chí Kiên. Nhưng hoàn toàn không có chuyện Sô - Nhi và đám thuộc hạ đã phát hiện ra tung tích, dấu vết của Phùng Chí Kiên để giăng bẫy.

>> Phần trước

Sau khi sát hại Phùng Chí Kiên, hơn ba tháng sau, mật thám Pháp cũng vẫn chưa xác định được “tên phiến loạn” là ai và đành phải có bản thông báo nêu trên. Vậy, vì sao Phùng Chí Kiên lại rơi vào ổ phục kích của địch?

Mạnh Văn Liễu (Nguyễn Vỹ – Phùng Chí Kiên) trong hồ sơ của mật thám Pháp
Mạnh Văn Liễu (Nguyễn Vỹ – Phùng Chí Kiên) trong hồ sơ của mật thám Pháp

Như đã biết, khoảng cuối tháng 6/1941, thực dân Pháp đã huy động trên 4000 quân đủ các binh chủng cùng với mạng lưới tay sai, phản động ở các địa phương mở cuộc càn quét lớn vào Bắc Sơn nhằm tiêu diệt lực lượng Cứu Quốc quân non trẻ của ta mới thành lập do Phùng Chí Kiên chỉ huy, đồng thời, truy sát Ban Lãnh đạo Trung ương Đảng.

Để bảo toàn lực lượng, Cứu Quốc quân đã chia làm hai nhóm rút khỏi vòng vây của địch. Nhóm thứ hai có bảy đồng chí gồm Phùng Chí Kiên, Lương Văn Chi, Mã Thành Kính, Bế Sơn Cương, cùng hai người tên là Lâm, Thành và một người dẫn đường là Hà Khai Lạc.

Thông qua hồi ức của người dẫn đường, chúng ta có thể phần nào hình dung được nguyên nhân và diễn biến cuộc chiến đấu hy sinh của Phùng Chí Kiên.

Cụ Hà Khai Lạc kể: “Sau mấy ngày len lỏi trong rừng, phải tránh các đường lớn, lội dọc theo nhiều con suối nhằm xóa dấu vết trên đường mòn, ngày 14/8/1941, chúng tôi đến Yên Hùng thuộc châu Bình Gia, Lạng Sơn, rồi đi qua Nà Pan, Sắc Sái thuộc Tư Lễ, châu Na Rì. Đến đây, chúng tôi phát hiện một tên mật thám cứ lẵng nhẵng theo sau. Nhận thấy tung tích có thể bị lộ vì tên chó săn đó, chúng tôi buộc lòng phải thanh toán hắn.

Sau đó, chúng tôi lại phải di chuyển ngoằn ngoèo vào rừng rậm, leo qua những đoạn đường rất hiểm trở để đánh lạc hướng săn lùng của bọn tay sai Pháp.

Ngày 16 và 17/8/1941, chúng tôi đến được Pò Kíp, xã Văn Học thuộc châu Na Rì. Đây là vùng khá quen thuộc vì tôi đã làm gạch ngói vài năm ở xã này. Hồi đó, tôi lấy tên là Tảo. Xã này có tên Chánh Thượng phản động, cần phải đề phòng.

Riêng tôi hồi đó còn rất ngây thơ và kém cảnh giác về chính trị nên cho rằng hồi còn làm thợ đóng gạch ở đây, tôi đã làm không công cho bọn chúng hàng vạn viên gạch, ngói, chắc chúng cũng phải nghĩ đến ơn xưa mà dành cho chúng tôi những sự dễ dàng.

Tôi đã tính lầm. Đến trạm gác Pò Kíp, chúng tôi chạm trán Chánh tổng Lương Thượng và năm tuần đinh. Tên Chánh Thượng ngăn chúng tôi lại, đòi xét hỏi giấy tờ. Lúc đầu nói dối là bọn tôi đi buôn lậu ở biên giới, đề nghị nó cho đi rồi sau này sẽ hậu tạ.

Chánh Thượng, mặt đỏ gay, vung ba -toong một vòng rồi quắc mắt quát: “Chúng mày có biết Thượng này làm gì ở đây không?”. Tôi gãi tai, vờ nịnh cho qua chuyện: “Dạ, đất này ai mà không biết tiếng cụ Chánh”.

Tên Thượng sừng sộ, nó hà cả hơi rượu vào mặt tôi: “Ở đâu cũng vậy, “Đất có thổ công, sông có hà bá”, sao chúng mày không đến trình tao trước? Tất cả đứng im cho tao khám thẻ và khám người xem có đồ quốc cấm không đã”.

Chúng tôi ôn tồn nói chuyện và khuyên chúng nên để chúng tôi đi. Chánh Thượng không nghe, nó chỉ ba -toong vào mặt tôi, giọng lè nhè: “Thằng Tảo kia, mày cũng đi với lũ ăn mày này à? Ông thì bắt trói cả lũ xem chúng mày có phải là buôn lậu không”. Nói xong, nó hô tuần đinh khám xét chúng tôi.

Đứng trước tình thế đó, anh Lâm đưa mắt dò hỏi anh Phùng Chí Kiên, còn tay thì luồn vào áo, rút ra khẩu súng ngắn. Anh Kiên gật đầu, thế là anh Lâm chĩa súng vào mặt Chánh Thượng và bóp cò. Tiếc thay, đạn không nổ! Tên Chánh Thượng hốt hoảng nhảy lùi về phía sau hai bước, nó quát tuần đinh “Cứ xông vào, súng giả đấy!”.

Ngay lúc đó, đồng chí Sơn Cương đã lia khẩu Pạc - khoọc khiến Chánh Thượng ngã khuỵu xuống. Bọn tuần đinh chạy rẽ ra hai bên. Anh Kiên hạ lệnh “Chúng ta đi thôi”.

Chúng tôi chạy vào rừng, rút sang lối Pò Mát. Tên Chánh Thượng tuy bị thương nhưng vẫn cay cú, hô tuần đinh đuổi theo chúng tôi. Bọn tuần đinh trù trừ, nhưng có hai tên xách súng kíp xông lên. Hai đứa bám rất sát chúng tôi. Cực chẳng đã, chúng tôi đành nổ súng trừng trị bọn chúng.

Tên Trương tuần Nông Văn Tạc bị thương ở cánh tay, còn tên tuần đinh Bế Văn Lô bị viên đạn của anh Mã Thành Tích kết liễu. Thế là bọn chúng đành bỏ dở cuộc săn đuổi.

Chúng tôi tạm dừng chân để hội ý. Ban đầu có một ý kiến nêu lên là rẽ qua đường Khuổi Lếch - Khuổi Cạn lên Nậm Chẳng (Lạng Sơn) rồi đi Pắc Bó Cao Bằng, nhưng lại có vài ý kiến đề nghị anh Kiên cho đi lối Ngân Sơn.

Anh em có một ý định hết sức táo bạo là phục kích ngang đường, chặn bắt một ô tô địch, phóng thẳng lên lối Cao Bằng. Đây là việc mà kẻ địch sẽ không thể ngờ tới. Ngồi ô tô vừa đỡ mệt, vừa đánh lạc hướng theo dõi của địch. Bọn tuần đinh, lính canh sẽ không dám ngăn bắt một ô tô đang chạy, vì không thể nào chúng đoán được ô tô đó có chúng tôi và người lái xe tải sẽ là anh Bế Sơn Cương.

Lúc đầu, anh Kiên trù trừ, cho kế ấy phiêu lưu, nhưng rồi chúng tôi mỗi người nói một câu, phân tích thêm là chỉ cần vượt mấy chặng nguy hiểm rồi lao xe xuống vực, sau đó lại đi bộ. Sau này, khi bọn địch phát hiện ra thì chúng ta đã cao bay xa chạy rồi. Cuối cùng, anh Kiên miễn cưỡng tán thành. Thế là chúng tôi đi về phía Ngân Sơn, định men theo đường cái lớn để chặn bắt ô tô.

Buổi chiều 20/8, chúng tôi đến nhà một người Dao ở khuất nẻo trong rừng thuộc xóm Khâu Long, châu Ngân Sơn, định nấu cơm ăn rồi lại tiếp tục đi. Chúng tôi không thể ngờ tên chủ nhà đã đi báo cho Chánh mục Bằng, tên Bằng báo tên Châu úy Bảo.

Cơm chưa chín đã có tin quân địch bao vây. Ai nấy vội vã len rừng đi về Khau Pàn, định vượt đường phụ số 3. Lúc này khoảng 4 giờ chiều, bao vây chúng tôi là quân lính của bọn khét tiếng vùng này gồm Châu úy Bảo, Châu Đoàn Phát, Quản Lợi và Đội Quận.

Bọn chúng dàn hàng ngang để lùng tìm. Khi phát hiện ra chúng tôi, bọn địch nổ súng. Chúng tôi nằm rạp xuống cỏ, tìm mô đất trong gốc cây để nổ súng bắn trả.

Hai anh Phùng Chí Kiên và Lương Văn Chi (xứ ủy viên) đều bị thương. Chúng tôi vừa bắn vừa lùi nhưng quân địch lố nhố ở khắp nơi, trên đỉnh núi và ở ngay dưới khe suối. Mặt anh Kiên đầy máu. Anh bị một vết thương khá nặng ở đầu. Đôi lúc anh không còn bò đi được nữa.

Tuy vậy, chúng tôi vẫn nghe được tiếng anh Kiên hạ lệnh “Tập trung súng bắn một loạt rồi mở đường máu chạy đi!”. Tôi ôm lấy vai anh Kiên cố dìu anh đi nhưng anh gạt tay ra và dặn nhỏ: “Phải chạy ngay, thoát một người là có lợi cho cách mạng, dùng dằng ở đây thì chết hết. Về Cao Bằng nhớ báo cáo lại với cấp trên. Tôi sẽ ở lại bắn chặn để các đồng chí thoát”.

Thời gian lúc này cấp bách quá. Đạn của địch cứ chiu chíu ở phía trên đầu. Có viên cắm phập xuống bụi cỏ trước mặt chúng tôi. Tôi xông lại cố kéo anh Kiên đi. Một toán lính rời chỗ nấp, khom lưng lao đến định bắt sống chúng tôi.

Anh Kiên quát lên: “Các đồng chí phải rút ngay”. Nói xong, anh quay phắt người về phía bọn địch đương chạy tới và nổ súng. Tôi đành chạy, vừa chạy vừa ngoái lại, còn thấy tay anh Kiên vẫn chĩa súng về phía địch nhưng đầu anh đã ngả sang một bên.

Nhờ loạt đạn của anh Kiên, chúng tôi thoát khỏi vòng vây giặc. Trời đã xế chiều, lại có cơn mưa lớn ập tới, bọn địch mất phương hướng truy lùng. Thấy đã thoát khỏi vòng vây, chúng tôi lặng lẽ tìm nhau và rất hoảng sợ vì ngoài anh Phùng Chí Kiên, còn anh Lương Văn Chi cũng không thấy đâu.

Sau này, chúng tôi mới được đồng bào trong vùng kể lại là đồng chí Chi bị thương ở cánh tay, máu ra nhiều quá, anh đuối sức và ngã xuống một hồ làm vàng rồi không leo lên được. Anh bị địch bắt và chết ở nhà giam Cao Bằng.

Về anh Phùng Chí Kiên, sau khi đã bắn đến viên đạn cuối cùng, anh bị địch bắt được. Bọn địch reo hò là bắt được giặc cỏ cộng sản.

Anh Kiên đã tập trung tất cả sức lực còn lại để nói với binh lính (đây là lời quần chúng kể lại), đại ý: “Chúng tôi là người yêu nước đi đánh Pháp đuổi Nhật chứ không phải giặc cướp. Chúng ta là người Việt Nam, cần đoàn kết nhau lại, chống quân thù...”.

Bọn Bảo, Phát rất sợ những lời chính nghĩa đó ảnh hưởng đến bọn tay chân, chúng đánh anh Kiên đến chết và, sau đó, theo lệnh quan thầy Pháp, cho chặt đầu anh đem bêu ở đầu cầu Ngân Sơn”.

Trên đây là hồi ức của cụ Hà Khải Lạc - người trực tiếp dẫn đường cho đoàn cán bộ của Cứu Quốc quân, vượt vòng vây giặc.

Riêng về ngày hy sinh của đồng chí Kiên, trước đây có một số tài liệu ghi là 21/8/1941. Gần đây, dựa trên một số tài liệu mới khai thác được, có ý kiến cho rằng, Phùng Chí Kiên bị bắn trọng thương vào khoảng 18 giờ ngày 22/8/1941 và hy sinh ngay sau đó; trước khi tắt thở, đồng chí có nói mấy câu nhưng địch nghe không rõ, không có chuyện đồng chí “ bình tĩnh giải thích làm xiêu lòng một số lính dõng”;

Việc bao vây truy kích, bắn chết Phùng Chí Kiên là do đích thân tên Công sứ Bắc Cạn điều động và chỉ huy các lực lượng trấn áp ở địa phương chứ không phải do bọn châu tuần phục kích, bắn chết. Bên cạnh đó, cũng có ý kiến nêu khá chi tiết cụ thể về sự hy sinh của Phùng Chí Kiên như sau:

“...Bị trọng thương, nằm lại trong rừng, đồng chí Kiên bị địch tra tấn dã man rồi khiêng về đồn Bằng Đức (thuộc châu Ngân Sơn) báo lên Cao Bằng để lĩnh thưởng (Châu Ngân Sơn lúc ấy thuộc tỉnh Cao Bằng). Theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp, bọn địch khi ấy treo thưởng cho thủ cấp của Nguyễn Ái Quốc là năm tạ muối, của Phùng Chí Kiên là ba tạ muối.

Giám binh Đờ Pông Tích đang ở đồn Bắc Cạn, lệnh cho đồn trưởng và Tri châu Ngân Sơn, báo động lính khố xanh, bít các ngả đường đi biên giới, hòng bắt nốt số Cứu Quốc Quân còn lại.

Tên Châu úy Vi Văn Bảo (về sau bị đền tội) bắt đồng chí Kiên nằm quằn quại qua đêm ngoài trời mưa giữa sân đồn, tiếp tục tra tấn cho đến khi đồng chí trút hơi thở cuối cùng vào sáng 21/8/1941 giữa lúc trời mưa to. Rồi chúng chặt đầu đem bêu ở cầu Ngân Sơn, nhằm khủng bố tinh thần quần chúng”.

Dẫu còn đôi chỗ chưa thống nhất về ngày hy sinh và một vài tình tiết khác, song sự hy sinh anh dũng của Phùng Chí Kiên là có thật, cũng như việc Phùng Chí Kiên là vị chỉ huy quân sự, vị tướng đầu tiên là có thật. Vậy, vì sao cho mãi tới năm 2002, nhà cách mạng – chiến sỹ này vẫn chưa được công nhận là liệt sĩ?

Còn nữa

Cùng chuyên mục

Tượng đài Nguyễn Tất Thành – Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Trường Quốc học Huế Ảnh: QH Huế

130 năm trường Quốc học Huế: Ngôi trường của tuấn kiệt, anh thư

TP - Trong nhiều lần trò chuyện với thạc sĩ Sử học Nguyễn Đình Dũng, người từng dạy môn lịch sử ở Đại học Huế và cũng từng công tác tại Bảo tàng Hồ Chí Minh TP Huế, thường nghe anh nói rằng: “Trường Quốc học Huế là ngôi trường vĩ đại, là chiếc nôi đào tạo lớp lớp hiền tài đóng góp rất lớn cho lịch sử đất nước. Họ đích thực là những tuấn kiệt, anh thư. Trong đó có vai trò đặc biệt quan trọng của người học sinh Nguyễn Sinh Côn, sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại”.

Rắn độc và rừng hoang đã 'bỏ bùa' họ như thế đó

Rắn độc và rừng hoang đã 'bỏ bùa' họ như thế đó

TPO - Suốt nhiều năm, thỉnh thoảng tôi vẫn được những vị khách phương xa, trong đó có cả khách Âu - Mỹ, nhờ dẫn đến những khu nhà hàng đặc sản thịt rắn như Lệ Mật để “thử món lạ”. Có những nhà báo châu Âu quyết tâm trải nghiệm đến cùng, giá cả chẳng thành vấn đề, cứ như thể đã đặt chân đến Hà Nội mà chưa nếm thịt rắn thì chuyến đi vẫn còn thiếu một điều gì đó. Vậy mà, khi tận mắt thấy quả tim rắn vẫn còn đập trong chiếc cốc thủy tinh, bên cạnh là thứ tiết đỏ au được khuấy bằng một cọng sả trắng nõn, không ít người bỗng chốc đổi ý. Họ lịch sự xin phép được dừng lại ở mức “chiêm ngưỡng”, nhường phần “thưởng thức” cho những người can đảm hơn.

Ông Nguyễn Hồng Quang tỉ mỉ, chăm chút từng sản phẩm mới

Khắc khoải về làng gốm cổ Hương Canh

TP - Từng có gần 400 hộ làm nghề, gốm Hương Canh (xã Bình Nguyên, tỉnh Phú Thọ) nay chỉ còn 4 hộ bền bỉ giữ lửa cho nghề gốm cổ. Được tạo nên từ nguồn đất trầm tích đặc biệt của địa phương, dòng gốm sành không men nổi tiếng bởi độ bền chắc và sắc màu trầm mộc mạc đang đối mặt với những khó khăn về đầu ra và nguy cơ thiếu người kế nghiệp.

Anh Lưu Quang Hà bên sản phẩm bê tông nghệ thuật của Công ty

'Chúa chổm' xứ Tuyên đúc nên cơ nghiệp

TP - Lưu Quang Hà vừa rời giảng đường đại học, bước chân khởi nghiệp liền bị quỵt tiền, phải vay nặng lãi để sống. Ở nhà, bố mắc ung thư phổi, gia đình khánh kiệt, khiến anh Hà nhiều đêm bật khóc. Nhưng rồi, anh đứng dậy, gây dựng công ty chuyên làm sản phẩm bê tông nghệ thuật – ngành nghề mà anh được học, doanh thu tiền tỷ, tạo việc làm cho gần 20 lao động. Anh còn là Bí thư Chi đoàn ở tổ dân phố.

Công an cơ sở tuyên truyền, vận động người dân xóa bỏ hủ tục nghi kỵ “cầm đồ thuốc độc” Ảnh: NN

'Bóng ma đồ độc' ám ảnh vùng cao Quảng Ngãi

TP - Ở một số bản làng miền núi Quảng Ngãi, hủ tục nghi kỵ “cầm đồ thuốc độc” vẫn âm ỉ tồn tại, len vào những mâu thuẫn đời thường, những cơn bệnh chưa được lý giải bằng khoa học. Từ một lời phán của thầy cúng, hàng xóm có thể thành kẻ thù, người vô tội bị cô lập, đánh đập, thậm chí mất mạng.

Cán bộ Trạm Y tế xã Buôn Đôn đi bộ đến từng hộ dân tại buôn Đrăng Phốk để tiêm vắc xin cho trẻ

'Cõng' vắc xin tìm trẻ giữa đại ngàn

TP - Không để người dân vất vả đưa con đến trạm y tế, vào ngày 16 hằng tháng, cán bộ y tế xã vùng xa tỉnh Đắk Lắk vượt hơn 20km đường rừng đều đặn mang vắc xin vào tận buôn. Chuyến đi của họ đã mang thêm một lớp bảo vệ đến với những đứa trẻ nơi vùng lõi rừng, từng ngày rút ngắn giữa dịch vụ y tế và người dân.

Giếng cổ được người dân tự hào giới thiệu với khách đến thăm đảo

Bí ẩn giếng cổ ở xã đảo Đà Nẵng

TP - Giữa vùng biển đảo quanh năm nắng gió, nơi từng giọt nước ngọt quý hơn vàng, hai giếng cổ dưới chân núi Bàn Than ở Tam Hải vẫn trong veo, mát lành qua hàng trăm năm.

Cựu chiến binh Nguyễn Duy Kháng và cô giáo HươngẢnh: Lê Văn Chương

Những người lính ở lại núi Dàng-Bài cuối: Trái tim cô giáo trẻ dành trọn tiếng "tít te"

TP - Tháng 2/1970, bên dòng sông Vệ (Hành Thịnh, Quảng Ngãi), những chiếc HU-1A còn gọi là tàu rọ liên tục quần đảo, gầm rít trên bầu trời. Giữa khói lửa chiến tranh, trái tim một cô giáo trẻ lại bị cuốn vào âm thanh “tít te” không ngừng của một cậu lính thông tin quê Thái Bình. “Cái này bí mật, không thể giải thích” – chàng lính Nguyễn Duy Kháng mỉm cười nói với cô giáo Nguyễn Thị Thanh Hương về công việc của mình.

Cựu chiến binh Lại Vũ Yên và bà Nguyễn Thị Bè, mối tình và đám cưới trong chiến tranh, giờ đây đã hơn 50 năm Ảnh: Lê Văn Chương

Những người lính ở lại núi Dàng-Bài 2: Mối tình người lính quân y và nữ du kích

TP - Trước năm 1975, địch xem xã Hành Thịnh là một trong những cái gai rất khó nhổ. Bởi đây là một xã đồng bằng của Quảng Ngãi nhưng lại có rất nhiều ngọn núi: núi Dàng, núi Đuôi Chuột, núi Rố, núi Gò Đồn, núi và rừng Ông Đương, gò Rú. Địa thế hiểm trở vốn là lợi thế của quân giải phóng và là vùng đất chết đối với quân đội chính quyền Sài Gòn. Y sĩ Lại Vũ Yên đã trải qua những ngày gian nan tại đây, sau đó kết hôn với cô du kích…

 Ông Trương Minh Hải, Tổ trưởng Tổ cộng đồng bảo vệ nguồn lợi thủy sản phường Hồng Ngự chăm sóc đàn cá tự nhiên Ảnh: Hoà Hội

'Ngôi nhà' của đàn cá trên sông Tiền

TP - Xuất phát từ ý tưởng giữ cá lại với dòng sông, người dân vùng đầu nguồn Hồng Ngự (Đồng Tháp) đã biến đoạn bờ kè bình dị thành “bến đỗ an toàn” của đàn cá hàng nghìn con. Cá được cho ăn, bảo vệ và sinh trưởng tự nhiên. Mô hình độc đáo này không chỉ góp phần bảo vệ nguồn lợi thủy sản mà còn đánh thức tình yêu thiên nhiên trong cộng đồng.

Chiến dịch 500 ngày đêm đang được tổ chức tại nghĩa trang liệt sĩ Hành Thịnh, xã Đình Cương. Trong số các liệt sĩ nằm lại, có nhiều người là đồng đội của vợ chồng ông Tân Ảnh: Lê Văn Chương

Những người lính ở lại núi Dàng: Mối tình lính DKB và cô y tá

TP - Cách đây hơn nửa thế kỷ, khi đất nước hòa bình, hầu hết những người lính gác lại súng gươm để trở về với quê nhà, mang theo ký ức của một thời hoa lửa. Thế nhưng, tại xã Hành Thịnh (nay là xã Đình Cương) nằm dưới chân núi Dàng- vùng căn cứ cách mạng của Quảng Ngãi, vẫn có những người lính ở lại. Đầu tháng 9 này, họ đang lặng lẽ dõi theo từng nhát cuốc của Đội tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ đang thực hiện Chiến dịch 500 ngày đêm.

Phiên chợ Sâm Ngọc Linh và dược liệu được tổ chức đều đặn mỗi tháng ở phố du lịch sầm uất của Đà Nẵng Ảnh: Giang Thanh

Quà quê kể chuyện Đà Nẵng

TP - Một tấm chiếu cói kể chuyện làng nghề, chai tinh dầu kể chuyện vùng dược liệu hay món đặc sản kể chuyện miền quê. Khi những món “quà quê” được đặt trong không gian trải nghiệm du lịch, câu chuyện về Đà Nẵng có cơ hội chạm vào du khách và theo họ đi xa hơn.