Những bài thơ đã công bố

Thơ Lê Đạt (1929 - 2008)

Thơ Lê Đạt (1929 - 2008)
TP - Khi nói về nhà thơ Trần Dần, nhà thơ Lê Đạt nhận xét: Trần Dần có tư cách một trưởng môn nhân trong thế hệ các ông, là người rất quyết liệt trong cuộc sống và trong việc cách tân thơ. Nhưng ông lại nói “thơ Trần Dần là một bản giao hưởng của lý trí”.
Ảnh: NĐT
Ảnh: NĐT

Khi in tập thơ “Bóng chữ” (1994), Lê Đạt mang đến tặng Trần Dần. Ông kể lại mình đã khá hồi hộp chờ nghe nhận xét của bạn. Đọc xong Trần Dần chỉ khẽ khàng nói: “Hay, nhưng kỹ quá”.

Thời kỳ đầu, mang bầu nhiệt huyết tuổi trẻ, Trần Dần và Lê Đạt đều ảnh hưởng nhà thơ cách mạng người Nga Maiacốpxky. Nhưng hai ông đã vượt qua cái bóng của thơ bậc thang, đi những con đường riêng để tìm tòi, đổi mới thơ ca Việt.

Nhiều người biết mối thâm tình giữa hai ông và sự thân thiết của các thành viên hai gia đình. Họ đã cùng chia sẻ hầu hết những khó khăn, hoạn nạn trong quá khứ.

Vì vậy có thể thấy, hai ông đã vượt qua những tình cảm thông thường của tình bạn, khách quan và trung thực đến tận cùng, nghiêm túc đến mức nghiêm khắc thế nào khi bàn về thơ.

Nhà thơ Lê Đạt đã đột ngột từ trần sau một chuyến đi ngắn ngày từ Tây Nguyên trở về. Giờ đây hai ông đã có thể tiếp tục đàm đạo thơ ở cõi vĩnh hằng khi không còn vướng bận những hệ lụy cuộc đời nữa.

TPCT xin giới thiệu một số bài thơ thuộc nhiều giai đoạn sáng tác của nhà thơ Lê Đạt, như một nén tâm hương vĩnh biệt người suốt đời tận tụy với chữ và với thơ. 

Những bài thơ đã công bố

BÁC

(Trường ca, trích)

Hôm nay

     Ta

     cúi đầu

     Việt Nam bất khuất

     khóc

Người lãnh tụ

người lão bộc trung thành

Người cha

người con yêu của Nước

Hai tang một lần

Ta nhân xót bằng hai

Chung quanh Người

hôm nay

vẫn

     đủ

Những đồng chí

     đêm nhen nhúm nước

Chung nhau

     dằng dặc tù đầy

Vẫn

     đủ

          ngày chung nhau

          chiếc băng tang

               trở Bác

Quây quần

trưởng thành

trong

nức nở

     Bác ơi !

…Ta đã trải

     quá nhiều anh hùng

     nhiều vĩ nhân

          lịch sử

Thế kỷ hai mươi

     tưởng

     không còn thiết nữa

          ngạc nhiên

Ta làm chứng

     không đếm xuể

     những thiên thần

     rơi

     mặt nạ

Đầu người

     lên

          cung trăng

Đuôi

     còn

          ăn thịt trẻ

               Tháp Mười

Ta vẫn

     ngạc nhiên

Khi

     dép cao su

Hơn hai mươi năm

     lẫy lừng quyền nước

     kaki bạc màu

Người vô sản

Bạn “bần hàn”

     “các nô lệ thế gian” (1)

Người

     hiện đại

     ca dao

     lịch sự

          đi

          vào

          lịch sử

“Nào… Kết đoàn…

     các chú”…

“Đừng gọi tôi là Chủ tịch

Gọi tôi là Bác Hồ” (2)

Vị Chủ tịch… đầu tiên

     nước Việt Nam

(Nhà tự vị xa xăm

     thôi

          khỏi cần băn khoăn nữa)

Chớ viết dài

     (Người ưa ngắn gọn)

Chủ tịch

     chẳng huân chương gì

          chói chang

               nơi

               ngực

Từ gốc thật

     lòng mình

Nhân loại

     tâm tặng

          Người

Huân chương

     không huân chương nào

     so sáng được

Mục

     HỒ CHÍ MINH

     tập Đại toàn thư lịch sử

Chỉ cần ghi

     hai chữ

          “BÁC HỒ”.

(Viết ngày giỗ đầu, in ngày thế giới kỷ niệm 100 năm sinh nhật Bác)

(1) Lời Quốc tế ca.

(2) Lời Bác Hồ nói với phóng viên Cuba Mácta Rôhát.

Thơ hai câu

Chập mạch chấn động tình quên tiểu sử

Lang thang trang lần quê chữ tìm mình

Em ô một lạnh mình anh lãnh đủ

Ngoại dù vùng mưa nhỏ hóa mưa to

Lòng biển triều xa con sóng

Lồng xổng ngà tim ướm giọng

     ngực tình ca

Tim lặng lạnh gốc bồ đề mưa cũ

Chim gõ mõ kiếp xưa

     chưa rũ hết lụy tình

Nắng tạnh heo mày hoa lạnh

Mimôza chiều khép cánh mimôixa

Đoản ngôn

Không có hậu

Lộ trình của nhiều nhà cách tân thường không có hậu. Họ đi từ những phân tích mở và độc đáo đến những kết luận đóng và độc đoán

Nghệ thuật sắp đặt

Nghệ thuật sắp đặt có một nhược điểm: Nó thường quên chỗ của tác giả.

Đó lại là một điểm mạnh trong bố cục nhân sự.

Ca sĩ

Diva H. nổi dài dài mà không chìm vì cô biết lặn. Đó là phép Yoga của danh vọng

Thơ cổ điển và hiện đại

Trong một bài thơ cổ điển, nghĩa thường đến đúng hẹn. Trong một bài thơ hiện đại, nghĩa thường đến trễ giờ.

Bóng chữ

Chia xa rồi anh mới thấy em

Như một thời thơ thiếu nhỏ

Em về trắng đầy cong khung nhớ

Mưa mấy mùa

     mây mấy độ thu

Vườn thức một mùi hoa đi vắng

Em vẫn đây mà em ở đâu

Chiều Âu Lâu

     bóng chữ động chân cầu

Át cơ

Anh tìm về địa chỉ tuổi thơ

Nhà số lẻ

     phố trò chơi bỏ dở

Mộng anh hường

     tim môi em bói đỏ

Giàn trầu già

     khua

          những át cơ rơi...

Gốm

Một chiếc bàn xoay hồn cổ sử

Một lò lửa ủ đất lên men

Lòng gốm rượu sủi tăm tình cũ

Gác chân họ Lý ngủ say mèm

Chăn bò Côn Sơn

     Ba mươi tuổi ba mươi con bò

     Ngu không số dư

Thuở chăn bò cỏ bãi xanh đầu tuổi

Côn Sơn trăng vườn vải nỗi thông reo

Chòm Yên Tử gió triều neo mây nổi

Suối Giải Oan chân lội tội trần

Những bài thơ chưa công bố

Cửa hàng Lê Đạt

(trích)

III

Trần Dần đi phao tin

“Lê Đạt mở cửa hàng phở chó”

Anh em ôm bụng cười

Ô hay, sao lại cười

Tôi không định mở cửa hàng phở chó

Nhưng sáng tác cho đời thêm một vài thứ phở

Chẳng là nên hay sao

Chẳng hơn ngồi nhai đi nhai lại

Mấy vần thơ thịt rừ

Cũ rích từ thời thượng cổ

Hà Nội nếu không còn hàng phở

Đời sẽ buồn biết bao nhiêu

Như Hồ Gươm không người làm xiếc

Như Hồ Tây, vắng bánh tôm

Sẽ vô số người thương người nhớ

Chúng ta

     những người làm thơ

          làm phở

          làm xiếc

          làm bánh tôm

          làm gì gì nữa

Đều đầy tớ loài người bớt đau khổ

Theo đuổi cùng mục đích như nhau

     Hãy bắt cái đầu suy nghĩ

     Không han gỉ

     ngày đêm tìm tòi

Nước béo

     mỡ gầu

          tôm tươi

          thơ mới

Còn gì phấn khởi hơn phục vụ con người

VIII

Để sắm một cửa hàng nho nhỏ

Tôi đã đổi bao nhiêu ngày hớn hở

     Mười tám đôi mươi

Những má gọi

     những vườn cười chín tới

Tôi đã sống những ngày lầm lũi

Quên ngủ, quên ăn

Mắt lõm sâu

     như huyệt chôn người chết

Tôi đã chịu đau thương

     bất công

          nhọc mệt

Tuổi thơ

     làm hại tuổi giời

Mà nhiệm vụ

tôi vẫn làm chưa trọn.

Nước mắt vẫn mưa rơi

Những đầu xanh vẫn bạc

Những thành kiến

     Nghi ngờ

          Dốt nát

Vẫn còn mạt sát con người

Sao ta chưa biến được cung trăng

     thành chỗ ở

Sao mới sáu, bảy mươi

     đời đã vội về già

Đến bao giờ mới có những thanh niên

     trăm tuổi

Ngậm ngùi thương

     ông Bành Tổ chết non

Những bà mẹ vừa sinh con

     vừa hát

Đau khổ bật thành tiếng cười

Hòn đá bảo tôi

Củ khoai bảo tôi

Vân vân bảo tôi

“Sao thơ anh chưa cho tôi nói

     chưa cho tôi làm người”

Nợ chúa Chổm luân hồi

     mấy kiếp trả cho vơi

Vũ trụ ơi

     tha cho tôi

Tất cả những gì

     thơ tôi chưa làm được

Khi tắt thở

     mắt tôi đừng ai vuốt

Còn gì buồn hơn

     màn đóng lại mục đời

IX

Hàng chúng tôi

     hôm nay

          mở cửa

Kính mời hải nội 

     chư quân tử

          khai trương

Anh em can

     Sao lại mở vào ngày giữa tháng

     Lúc lần túi, đã bắt đầu thấy cạn

     Vợ chồng

          sửa soạn vặc nhau

Một điếu thuốc lào tăng xin không có

Xin các anh đừng sợ

Hàng tôi mua không phải trả tiền ngay

Chỉ mong mọi người

     khi ra khỏi cửa

Tình nước lặng buồm thổi khơi căng gió

Mộng đẹp bay chim ngày

Mắt mở to

     nhìn đời

          thẳng mặt

Nhích bàn tay

     gần một bàn tay

Thêm một bước chờ

     bờ xa gánh nặng

Thêm một thì thầm

     xanh con đường vắng

Thêm một tình yêu

     thêm một nụ cười

1959

“Tôi khóc những chân trời không có người bay

Lại khóc những người bay không có chân trời” (1)

Tôi tễnh gậy chân chiều nắng mỏi

Thỏi chữ âm khô

     gió thổi vàng hồ

Bất đắc… tử… một câu thơ

     Nặng nợ

Trần Dần

     Vì nỗi khổ nạn bao la

     Vì lòng yên dân yêu chữ thiết tha của mày

Tao xin thay mặt anh em

     Vĩnh biệt mày một lạy

Chân trời đêm đầy

     oan sáng

          một hồn bay

Cuối kỷ XX

     Bồng bềnh cò vỡ tổ tha hương

          Biển độ

Có phải quê hương tượng thần loang lổ

     Chữ cũ dối lừa

     Trăng xưa tình phụ

Sóng bạc địa cầu

     XXI bờ đâu

1996

(Trích Bước ký vào XXI, trường ca)

(1)Thơ Trần Dần