Những động lực mới
Trong hành trình công nghiệp hóa của Quảng Ngãi, Khu kinh tế (KKT) Dung Quất giữ một vị trí đặc biệt. Từ lọc hóa dầu, luyện kim, cơ khí đến cảng biển, năng lượng, một nền tảng công nghiệp đã được hình thành và tiếp tục được xác định là động lực quan trọng trong giai đoạn phát triển mới. Nhưng ở chặng đường phía trước, câu chuyện không chỉ là Dung Quất lớn thêm bao nhiêu, mà cực công nghiệp này có thể tạo thêm bao nhiêu năng lực sản xuất, chuỗi giá trị và sức lan tỏa cho nền kinh tế.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi Trần Phước Hiền cho biết, mục tiêu đến năm 2030 là đưa Quảng Ngãi trở thành tỉnh phát triển khá, “một cực tăng trưởng quan trọng của khu vực miền Trung - Tây Nguyên”. Giai đoạn 2026 - 2030, tỉnh đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP bình quân từ 10%/năm trở lên; năng suất lao động tăng 8,5 - 9,5%/năm; GRDP bình quân đầu người khoảng 6.900 - 7.000 USD; tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong 5 năm từ 560.000 tỷ đồng trở lên.
Song như ông Hiền nhìn nhận: “Thách thức lớn nhất là phải chuyển hóa được tiềm năng thành năng lực sản xuất và giá trị gia tăng thực tế. Có lợi thế về vị trí, tài nguyên, cảng biển hay các dự án lớn chưa đồng nghĩa với việc trở thành cực tăng trưởng. Điều quyết định là tiến độ dự án, chất lượng hạ tầng, năng lực doanh nghiệp, nguồn nhân lực, chất lượng quản trị và khả năng liên kết giữa các ngành, các địa phương”.
Trong cấu trúc tăng trưởng ấy, Dung Quất tiếp tục giữ vai trò hạt nhân. Với KKT và cảng nước sâu, Quảng Ngãi có nền tảng phát triển lọc hóa dầu, luyện kim, cơ khí và năng lượng. Định hướng của tỉnh là phát triển Trung tâm Lọc hóa dầu và Năng lượng quốc gia gắn với cảng biển, logistics và chuỗi cung ứng; đồng thời mở rộng sang điện tử, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, năng lượng mới và công nghiệp xanh.
Một trong những động lực được đặt nhiều kỳ vọng là Trung tâm Lọc hóa dầu và Năng lượng quốc gia. Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Quảng Ngãi Nguyễn Thanh Mân cho biết, dự án đã được Đại hội XIV của Đảng đưa vào Nghị quyết; Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lần thứ XXI, nhiệm kỳ 2025 - 2030 cũng xác định đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của tỉnh. Trung tâm được kỳ vọng đóng vai trò dẫn dắt ngành công nghiệp Quảng Ngãi trong giai đoạn mới, đồng thời mở ra một hệ thống rộng hơn thay vì chỉ giới hạn ở lọc hóa dầu.
Cùng với định hướng này, nhiều dự án lớn được kỳ vọng bổ sung năng lực sản xuất cho Dung Quất, trong đó có nâng cấp, mở rộng Nhà máy lọc dầu Dung Quất; các dự án của Hòa Phát gồm Dung Quất 2, thép ray, thép đặc biệt; VSIP II; các dự án điện khí Dung Quất I, II, III. Yêu cầu đặt ra không chỉ là đẩy nhanh tiến độ mà còn phải kiểm soát công nghệ, môi trường, hiệu quả sử dụng đất; lĩnh vực năng lượng vừa đa dạng hóa nguồn cung, bảo đảm an ninh năng lượng, vừa chuyển dịch sang năng lượng sạch, tái tạo và phát thải thấp.
Một cực tăng trưởng cũng không thể chỉ mạnh bên trong hàng rào khu kinh tế. Quy hoạch Dung Quất đến năm 2045 xác định nơi đây là trung tâm công nghiệp ven biển, đồng thời là đầu mối giao thương, logistics và cảng trung chuyển của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung.
Trong 8 tháng đầu năm 2026, các KKT, KCN Quảng Ngãi thu hút khoảng 491,14 triệu USD vốn đầu tư đăng ký mới và tăng thêm. Lũy kế có 441 dự án còn hiệu lực, tổng vốn khoảng 19,67 tỷ USD, trong đó có 63 dự án FDI.
Trưởng Ban Quản lý KKT Dung Quất và các KCN Quảng Ngãi Lương Kim Sơn cho rằng, từ lợi thế cảng nước sâu, Quảng Ngãi cần khai thác mạnh hơn các lĩnh vực kho bãi, dịch vụ cảng, vận tải đa phương thức, trung tâm phân phối và dịch vụ xuất nhập khẩu. Trung tâm Logistics Dung Quất được kỳ vọng trở thành một mắt xích quan trọng trong mạng lưới này.
Lọc hóa dầu, luyện kim, cơ khí, công nghiệp hỗ trợ, đóng mới và sửa chữa tàu biển tiếp tục được xem là những ngành nền tảng. Song bài toán không còn dừng ở mở rộng công suất mà phải đi sâu vào những sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn như thép chất lượng cao, thép đặc chủng, sản phẩm sau thép và sản phẩm hóa dầu. Năng lượng và công nghiệp xanh cũng được đặt vào nhóm ưu tiên, mở thêm dư địa cho chu kỳ tăng trưởng mới.
Không chạy theo số lượng dự án
Trong 8 tháng đầu năm 2026, các KKT, KCN Quảng Ngãi thu hút khoảng 491,14 triệu USD vốn đầu tư đăng ký mới và tăng thêm. Lũy kế có 441 dự án còn hiệu lực, tổng vốn khoảng 19,67 tỷ USD, trong đó có 63 dự án FDI. Nhưng phía sau những con số về vốn là câu hỏi quan trọng hơn: dự án để lại gì cho nền kinh tế địa phương?
Nguyên tắc được Ban Quản lý KKT Dung Quất và các KCN Quảng Ngãi đặt ra trong giai đoạn mới là lựa chọn đúng nhà đầu tư, đúng ngành, đúng công nghệ và đúng thời điểm.
Ông Lương Kim Sơn cho rằng, một dự án quy mô lớn cần tạo được liên kết với doanh nghiệp trong tỉnh, tạo việc làm chất lượng cao, tăng thu ngân sách và quan trọng là kéo theo những dự án vệ tinh. Cuộc cạnh tranh thu hút đầu tư vì thế đã đặt ra yêu cầu từ cả hai phía: không chỉ doanh nghiệp lựa chọn địa điểm đầu tư, địa phương cũng phải lựa chọn những dự án phù hợp với chiến lược phát triển. Giá trị của một dự án lớn còn nằm ở những lớp giá trị phía sau, từ doanh nghiệp vệ tinh, việc làm kỹ thuật, dịch vụ logistics đến nguồn thu và năng lực công nghiệp mới.
Đó cũng là hướng Quảng Ngãi đặt ra cho dòng vốn trong giai đoạn 2025 - 2030. Phó Giám đốc Sở Tài chính Quảng Ngãi Phan Văn Tùng cho biết, tỉnh xác định thu hút đầu tư có chọn lọc, lấy chất lượng, hiệu quả và tính bền vững làm tiêu chí thay vì chạy theo số lượng. Những lĩnh vực ưu tiên gồm công nghiệp nền tảng; công nghệ cao, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, điện tử, công nghệ sinh học; năng lượng sạch; chế biến sâu nông, lâm, thủy sản, dược liệu; logistics và du lịch chất lượng cao.
Với các dự án lớn, khả năng tạo sức lan tỏa và hình thành chuỗi giá trị được đặt lên hàng đầu. Dòng vốn FDI được ưu tiên đối với dự án có chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, liên kết với doanh nghiệp trong nước; sử dụng công nghệ thân thiện môi trường, tiết kiệm năng lượng, phát thải thấp, sử dụng hiệu quả đất đai và tài nguyên. Cách tiếp cận này cho thấy sự chuyển dịch từ thu hút “nhiều dự án” sang coi trọng giá trị gia tăng, việc làm, nguồn thu và chuyển giao công nghệ.
Nguồn nhân lực cũng trở thành một phần của bài toán tăng trưởng. Tính đến tháng 6/2026, tổng lao động tại KKT Dung Quất và các KCN khoảng 81.700 người, riêng Dung Quất khoảng 75.000 người. Khi các dự án công nghệ, năng lượng, cơ khí và logistics phát triển, nhu cầu kỹ sư, lao động kỹ thuật cao và nhân lực quản trị công nghiệp sẽ tăng. Ông Lương Kim Sơn cho rằng, giải pháp được đặt ra là liên kết doanh nghiệp với các trường đại học, cao đẳng, cơ sở giáo dục nghề nghiệp để đào tạo theo nhu cầu thực tế.
Như vậy, nguồn lực là một vế, khả năng đưa dự án vào thực tế là vế còn lại. “Không để các dự án động lực chỉ dừng ở chủ trương, giấy chứng nhận đầu tư mà phải chuyển hóa thành vốn thực hiện, năng lực sản xuất, sản lượng, doanh thu, việc làm và thu ngân sách”, ông Trần Phước Hiền nhấn mạnh.
Quảng Ngãi đặt mục tiêu đến năm 2030, công nghiệp - xây dựng và dịch vụ chiếm khoảng 75 - 76% GRDP, riêng công nghiệp - xây dựng khoảng 44 - 45%; kinh tế số chiếm ít nhất 30% GRDP. Tăng trưởng đồng thời phải tuân thủ quan điểm “không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng”, không lựa chọn dự án sử dụng công nghệ lạc hậu, nguy cơ ô nhiễm cao hoặc sử dụng tài nguyên kém hiệu quả.
Ngày 24/9, báo Tiền Phong phối hợp UBND tỉnh Quảng Ngãi tổ chức Hội thảo “Quảng Ngãi hiện thực hóa mục tiêu trở thành cực tăng trưởng miền Trung”. Hội thảo có sự tham dự của lãnh đạo các bộ, ngành Trung ương, nhà quản lý, chuyên gia, nhà khoa học, doanh nghiệp và nhà đầu tư; cùng trao đổi, đề xuất giải pháp phát huy tiềm năng, tháo gỡ điểm nghẽn, thu hút nguồn lực, tăng cường liên kết vùng, tạo động lực phát triển cho Quảng Ngãi trong giai đoạn mới.
Bởi vậy, mục tiêu trở thành cực tăng trưởng của Quảng Ngãi không chỉ được đo bằng quy mô Dung Quất, số dự án lớn hay một chỉ tiêu GRDP. “Thước đo cuối cùng còn phải là năng suất cao hơn, doanh nghiệp mạnh hơn, hạ tầng tốt hơn, công nghệ hiện đại hơn, môi trường được bảo vệ, thu nhập người dân cao hơn và cơ hội phát triển công bằng hơn. Những dự án lớn nếu không tạo được giá trị tại chỗ, không nâng được thu nhập và chất lượng sống của người dân thì chưa thể coi là thành công”, ông Hiền nhấn mạnh.
Từ “đầu tàu” Dung Quất, bài toán của Quảng Ngãi trong chặng đường mới là chuyển lợi thế thành năng lực sản xuất, dự án thành chuỗi giá trị, dòng vốn thành năng suất, việc làm và nguồn thu. Khi không gian phát triển đã trải rộng từ biển đảo, đồng bằng đến cao nguyên, cửa khẩu, bài toán tiếp theo là kết nối những cực phát triển ấy thành một không gian kinh tế thống nhất, để sức mạnh công nghiệp phía Đông có thể lan tỏa và những tiềm năng phía Tây được phát huy.