![]() |
| Đầu cơ vào bất động sản, nhiều ông chủ như đang ngồi trên lửa (ảnh chụp tại khu chung cư Pháp Vân - Hà Nội) Ảnh: Phạm Yên |
Trong đời người dân Việt ai chẳng một vài lần đánh bạc, có những người đánh bạc thành nghiệp và một sự thật phũ phàng hơn là với nhiều người cuộc đời là một canh bạc lớn mà chính họ không hình dung được rủi ro có thể gặp.
Cái máu cờ bạc đã ăn sâu vào mỗi người dân Việt đến mức họ không còn nhận ra điều đó. Nó ngấm vào suy nghĩ mong cầu những hạnh phúc bất ngờ mà không cần vất vả bon chen.
Phải chăng nó bắt nguồn từ cuộc sống quá khó khăn, có lẽ không phải! Hay đấy là vì mục đích giải trí đơn thuần, cũng không hẳn.
Những lĩnh vực như thị trường chứng khoán, bất động sản được hào hứng xông vào với từ “chơi”. Đổ xô nhau “chơi”, từ người giàu đến không giàu lắm và chơi bằng vốn của mình cũng như vay mượn.
Hình ảnh chăm chú theo dõi biến động và những lời bàn kháo nhau giống hệt dòng người ào ạt vào các sòng bạc, để rồi rất ít người bước ra một cách đắc ý.
Tưởng chừng giật được nhanh chóng tiền của thiên hạ. Rồi các làn sóng bán hàng đa cấp thu hút những người máu me làm giàu nhanh chóng. Với số tiền đầu tư ít ỏi, ai cũng sẵn sàng bước vào với giấc mơ hồng để rồi đa số phải thất vọng và trả giá.
Tưởng rằng những người ít học mới ham mê, nhưng không. Các ông bố, bà mẹ sẵn sàng bỏ tiền gấp hàng chục đến hàng trăm lần số tiền lương sẽ được nhận cho con cái mình có việc làm.
Người “thức thời” sẵn sàng bỏ ra số tiền khổng lồ chạy chọt vào những vị trí với mức lương bèo bọt. Tại sao vậy? Họ muốn tham gia vào một trò chơi, một canh bạc của cuộc đời.
Họ dấn thân vào những chỗ chưa hẳn thích hợp, đầu tư khoản tiền khổng lồ với hy vọng đến lúc thu tiền của người khác. Người ta thường kháo rằng, một số cảnh sát giao thông muốn được đứng đường không phải đơn giản. Một số tiền lớn đã được lo lót và đến lượt họ “làm luật” cánh lái xe.
Giáo viên vốn là một nghề cao quý nhưng cũng không tránh được thảm cảnh đánh bạc. Để có được chân giảng viên ở một trường danh tiếng có nghĩa có người phải dùng độ dày của tập giấy người ta gọi là tiền chứ không phải bằng cấp hay danh tiếng.
Đến lượt mình, các giáo viên với đồng lương ít ỏi lại phải gồng mình vừa kiếm sống, vừa trả lại món nợ đã đầu tư ban đầu. Họ đã tham gia vào một canh bạc một cách vô thức mà không biết.
Những bộ mặt lạnh lùng, giọng nói gắt gỏng cáu kỉnh và đôi khi cả chửi bới có thể dễ thấy ở nơi người ta đáng được an tĩnh như bệnh viện. Tại đó, có những viên chức tự cho mình cái quyền cao giọng với người khác chỉ vì người đó đang nhờ lụy mình.
Thực tế rằng những người đáng an dưỡng và bị gắt gỏng kia lại đang trả tiền và nuôi sống những người gắt gỏng bằng những cách trực tiếp thô thiển sau tờ phong bì hay gián tiếp qua bệnh viện.
Và một thực tế phũ phàng rằng, để có được một chân cho một chỗ “ngon” thì số tiền chi ra cũng phải rất lớn. Như vậy họ là những người đáng trách nhưng cũng là nạn nhân của canh bạc cuộc đời mà họ tham dự.
Trong các cuộc đấu thầu, người ta thán phục những ai dám “chơi”, càng “chơi” càng chứng tỏ bản lĩnh. “Chơi” ở đây đồng nghĩa với “chi”, người “dám chơi” là người dám chi, dám “lại quả” mạnh tay mà vẫn hợp thức hóa được tất cả chứng từ và bịt mắt được công luận.
Người ta cũng thán phục nhau giỏi tài biến báo và hợp lý hóa các thủ tục lắt léo. Mỗi khi lương tâm vấn hỏi thì một cách nhẹ nhàng “cái cơ chế nó thế”, vâng, trăm sự tại cái “cơ chế”, một cách đổ tội tài tình hợp lý cũng như cách đây chưa lâu người ta đổ tội cho “lịch sử”.
Không gì dễ bằng đổ tội cho cái mà chẳng thể nào thanh minh, “lịch sử”, “cơ chế” chẳng bao giờ biết cãi lại mà chỉ im lặng nhận bao nhiêu thứ tội lỗi người ta trút lên...
Đàm Quang Minh
(dam.minh@uni-greifswald...)
| 10 đặc điểm của người Việt (Khảo sát của một viện nghiên cứu xã hội Mỹ) 1. Cần cù lao động, song dễ thỏa mãn nên tâm lý hưởng thụ còn nặng. 2. Thông minh, sáng tạo, song chỉ có tính chất đối phó, thiếu tầm tư duy dài hạn, chủ động. 3. Khéo léo, song không duy trì đến cùng (ít quan tâm đến sự hoàn thiện cuối cùng của sản phẩm). 4. Vừa thực tế, vừa mơ mộng, nhưng không có ý thức nâng lên thành lý luận. 5. Ham học hỏi, có khả năng tiếp thu nhanh, nhưng ít khi học “đến đầu đến đuôi” nên kiến thức không hệ thống, mất cơ bản. Ngoài ra, học tập không còn mục tiêu tự thân của nhiều người Việt Nam (nhỏ học vì gia đình, lớn học vì sĩ diện, để kiếm công ăn việc làm, ít vì chí khí, đam mê). 6. Xởi lởi, chiều khách song không bền. 7. Tiết kiệm, nhưng cũng nhiều khi hoang phí vì những mục tiêu vô bổ (sĩ diện, khoe khoang, thích hơn đời…). 8. Có tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, song hầu như chỉ trong những hoàn cảnh, trường hợp khó khăn bần hàn. Trong điều kiện sống tốt hơn, giàu có hơn thì tinh thần này ít khi xuất hiện. 9. Yêu hòa bình, nhẫn nhịn, nhưng nhiều khi hiếu chiến, hiếu thắng vì những lý do tự ái lặt vặt, đánh mất đại cục. 10. Thích tụ tập, nhưng lại thiếu tính liên kết để tạo ra sức mạnh (cùng một việc, một người làm thì tốt, ba người làm thì kém, bảy người làm thì hỏng). Huy Anh (st) |
