Đại úy Hoàng Phương Toàn thuộc Đồn biên phòng Cửa khẩu quốc tế Lao Bảo không cần giở sổ tay công tác đã thông tin cho tôi biết những cặp bản hai bên biên giới Việt-Lào vừa mới giao lưu là những địa bàn thuộc phạm vi đồn quản lý, như: thôn Ka Tăng với bản đối diện phía nước bạn là Đen Sa Vẳn, thôn Duy Tân với bản Phường, thôn Bích La Đông với bản Mỹ Yên, thôn Cổ Thành với bản Ka Túp…
Về cuộc giao lưu mới đây, cả ông Hồ Văn Hoan trưởng bản Ka Tăng của Việt Nam và trưởng bản Ketthang Thakhet của Đen Sa Vẳn bên Lào khi tôi gặp gỡ, đều thốt lên rằng cuộc giao lưu rất vui, vui lắm. Đúng là, anh em chân tình kết nghĩa gặp nhau không vui mới lạ.
Nhưng sự khởi đầu câu chuyện trọng đại của vùng biên nhiều năm về trước lại diễn ra một cách tình cờ, từ một bản làng heo hút…
Từ những bất ngờ hạnh phúc
Đại tá Nguyễn Bá Duyệt, hiện là Phó Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy Biên phòng tỉnh Quảng Trị kể: “Năm 2000 khi ấy tôi là một sĩ quan biên phòng còn trẻ đang công tác ở vùng Lìa, tỉnh Quảng Trị. Hôm ấy, bà con bản A Mo, xã A Xing, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị tổ chức giao lưu với bản Pa Lọ, huyện Sa Muồi, tỉnh Salavan của nước bạn Lào. Những buổi giao lưu như thế trước đây không phải là hiếm. Thường thì cũng tay bắt mặt mừng, hỏi han sức khỏe và mời cơm thân mật, trò chuyện, giao lưu. Vậy nhưng lần gặp hôm ấy lại có nhiều chuyện lạ, khác hẳn bình thường, khiến chúng tôi đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác…”.
Theo lời kể của Đại tá Duyệt, điều đặc biệt hôm ấy không phải là có vị lãnh đạo cấp cao nào đến dự. Chỉ là hai trưởng bản của hai nước bắt tay nhau kết tình anh em, cam kết luôn thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ nhau khi gặp khó khăn, hoạn nạn. Đồng thời hai bên thống nhất nhiều nội dung rất cụ thể, như trâu bò hay dê bên này lạc sang bên kia thì phía bên kia có trách nhiệm giữ rồi trả lại cho chủ; nếu có kẻ xấu lỡ trộm cắp tài sản bên bản này thì khi đưa sang bản kia tiêu thụ sẽ không ai được mua bán, đổi chác mà có trách nhiệm báo cho trưởng bản biết để trả lại cho người đã mất; nếu bên này có người đau ốm mà bên kia có thầy thuốc thì phải giúp đỡ nhau. Rồi trai gái đi sim (đi tìm hiểu, yêu đương từ bản này sang bản kia) phải về nhà không quá 21h đêm…
“Tôi thấy câu chuyện quá hay nên làm báo cáo gửi về Bộ chỉ huy Biên phòng tỉnh Quảng Trị và còn viết cả bài tuyên truyền về một mô hình quá hay và quá mới, do dân tự nguyện, tự phát làm nên”, Đại tá Duyệt nhớ lại.
Ðến hồi ức của một vị tướng biên cương
Ông là Thiếu tướng Trần Đình Dũng, nguyên Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Bộ tư lệnh Bộ đội Biên phòng, nguyên Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Biên phòng tỉnh Quảng Trị.
Ngoài bảy mươi tuổi nhưng ông Dũng vẫn khỏe khoắn, minh mẫn, đặc biệt là khi nói chuyện về biên phòng thì hồi ức của vị tướng già từng kinh qua nhiều chiến trường, trận mạc, coi biên cương là máu thịt đời mình cứ thế tuôn trào. Ông tham gia quân ngũ từ năm 1968 ở miền Tây Quảng Trị, gắn bó với bà con dân tộc Vân Kiều, Pa Cô, sau đó vào Tây Nguyên công tác, rồi có mặt biên giới Campuchia, lại ra biên giới phía Bắc… Ở đâu ông cũng lăn lộn, vui buồn cùng biên viễn.
Ông Dũng bảo nhìn lại lịch sử, có bao giờ triều đình điều động quân đội lên biên giới đâu, trừ phi có giặc xâm lược, còn thì bình thường cứ giao cho các tù trưởng, tộc trưởng, cho dân bản địa là chủ quê hương, giữ đất, giữ bản, giữ nhà của họ. Hơn nữa, do hoàn cảnh lịch sử, địa lý, bà con các dân tộc Vân Kiều, Pa Cô hai bên biên giới nơi đây thường có quan hệ họ hàng, thông gia, qua lại thường xuyên hàng ngày, rồi trai gái yêu đương, rồi lễ hội, đám tang, đám cưới…, thậm chí người sống bên này nhưng khi chết lại chôn ở bên kia. Cho nên câu chuyện biên giới không hề đơn giản như việc vạch ra trên bản đồ còn bộ đội biên phòng thì cũng không thể dàn hàng ngang ra để bảo vệ biên cương. Tất cả đều dựa vào dân hai bên biên giới. Mặt khác, đường biên giới là đường biên giới chung, không thuộc nước nào cả nên cả hai bên đều có trách nhiệm gìn giữ. Vậy thì câu hỏi phải giữ như thế nào để có hiệu quả vững chắc và lâu bền?
“Tôi suy nghĩ điều này rất lâu từ khoảng năm 1995, nhưng phải qua trải nghiệm thực tế, tìm hiểu, nghiên cứu thì mới có sáng kiến kết nghĩa hai bên biên giới. Tôi chỉ đạo anh em làm đề án khoa học dự thảo quy chế bản kết nghĩa với bản, làm lui làm tới trình Sở KH&CN tỉnh Quảng Trị. Cũng là hình thành ý tưởng như vậy, trước mắt cũng còn bao việc phải làm”, ông Dũng nói.
Tướng Dũng đặt ly trà xuống bàn, dừng giây lát rồi kể tiếp: “Lúc đó tôi là Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Biên phòng tỉnh Quảng Trị và ý tưởng này thì cũng quá mới mẻ nên mình cần phải tranh thủ sự đồng tình các cấp hữu quan, nhất là ở phía nước bạn. Tôi đi thẳng tới Viên Chăn gặp đồng chí Khăm Veo, Trưởng Ban Biên giới Chính phủ Lào, rất thân với tôi, đề xuất ý kiến kết nghĩa bản với bản giữa tỉnh Quảng Trị với tỉnh Savannakhet (Lào).
Ông Khăm Veo chăm chú nghe tôi trình bày, tỏ ra rất đồng tình và hoan nghênh. Ông còn nói rằng “Tốt quá ông Dũng ơi, đa số các bản Việt đời sống kinh tế có khá hơn phía bản bên Lào nên đây cũng là cơ hội để có thêm điều kiện giúp nhau và cùng chung tay bảo vệ đường biên giới chung”. Tôi lại quay về tỉnh Savannakhet gặp đồng chí Bí thư Tỉnh ủy là Xaysomphone Phomvihane (sau này là Chủ tịch Quốc hội Lào, mới vừa từ trần vào tháng 8, nước Việt Nam đã chia buồn trang trọng và sâu sắc bằng nghi thức quốc tang-NV). Đồng chí Bí thư cũng rất đồng tình, tiếp đến gặp Trưởng ty Công an Savannakhet, ông này cũng rất ủng hộ. Cơ bản là mình gặp được những người tâm huyết nên họ quá nhiệt tình. Rồi tôi lại gặp đồng chí La Hun, Bí thư Huyện ủy Sepon, mọi việc cũng suôn sẻ…”.
“Biên giới không chỉ là hiệp định, không chỉ là cột mốc biên cương, mà sâu xa hơn, thiết thực hơn phải là biên giới giữa lòng dân, được dân cảm nhận, thấu hiểu để rồi cùng nhau gắn bó, gìn giữ, bảo vệ, tô bồi nơi biên viễn”. Thiếu tướng Trần Đình Dũng
Tôi xen vào câu chuyện “Vậy là coi như việc đã xong, thưa ông?”. Tướng Dũng cười, đáp “Cũng chưa xong, ấy là phía trên, còn phía cơ sở nữa. Chúng tôi gặp bản Ka Tăng, thuộc thị trấn Lao Bảo (nay thuộc xã Lao Bảo) rồi gặp bản Đen Sa Vẳn của nước bạn, để xem chi bộ, trưởng thôn/bản hai bên cũng như nhân dân có đồng thuận không? Kết quả rất tốt đẹp. Khi thấy sự việc đã chín muồi, tháng 4/2005, chúng tôi cho Đồn biên phòng Cửa khẩu Lao Bảo tổ chức ra mắt lễ kết nghĩa có ý nghĩa lịch sử giữa hai bản, có mặt đại diện Đảng bộ, chính quyền hai bên biên giới, lại có cả đại diện Bộ Tư lệnh bộ đội Biên phòng vào dự.
Điều đáng nói không phải là nghi lễ mà là chính là bản quy chế. Bản quy chế nói rất rõ rằng những việc nhỏ như trâu bò bên này lỡ sang bên kia làm hư hại hoa màu hay thanh niên hai bản có uống rượu mâu thuẫn cãi cọ nhau, rồi cưới vợ, cưới chồng nhưng chưa đăng ký kết hôn cần làm thủ tục, hay giúp nhau giống cây trồng, kỹ thuật trồng cây tràm…thì hai bản tự tìm cách giải quyết, nếu việc lớn hơn thì tìm đến chính quyền và đồn biên phòng. Nhờ vậy, tình hình biên giới ngày càng ổn định...