Bí mật về 'mật lệnh tàng hình' của nữ biệt động Sài Gòn

TPO - Trong những năm tháng chiến tranh, nữ biệt động Nguyễn Thị Phương (Thư ký đánh máy của tướng Trần Hải Phụng) âm thầm thực hiện những “mật lệnh tàng hình”, chuyển tải thông tin quan trọng giữa lòng Sài Gòn. Không cầm súng, bà dùng sự mưu trí, gan dạ để vượt qua những vòng kiểm soát gắt gao của địch.

Video: Cận cảnh kỹ thuật viết mật thư “tàng hình” của nữ biệt động.

Trong căn nhà nhỏ ở một con hẻm trên đường Hoàng Văn Thụ (TP. HCM), bà Nguyễn Thị Phương, nay ngoài 70 tuổi, chậm rãi cầm bút viết lên tờ giấy trắng. Bút đi đến đâu, mặt giấy vẫn trắng đến đó.

tp-c_img-1168.png
Bà Nguyễn Thị Phương tái hiện cách viết mật thư “tàng hình” từng được sử dụng trong những năm chiến tranh. Ảnh: Nguyễn Tiến

Bà dùng cọ thấm dung dịch gọi là “nước mở mực” quét lên giấy. Từng dòng chữ từ từ hiện ra.

“Đây là cách tôi viết mật thư, phục vụ hoạt động cách mạng ngay giữa lòng Sài Gòn”, bà Phương kể.

Đây là một trong những nhiệm vụ đặc biệt bà từng đảm nhận khi hoạt động trong lực lượng Biệt động Sài Gòn. Không trực tiếp cầm súng, bà làm nhiệm vụ chuyển chỉ đạo, mệnh lệnh của cấp trên đến các cơ sở cách mạng trong nội đô.

tp-c_1787799725459-7457310976614381129-7457310976614381129-ed27a58ad3ba42a35b35de3a6c77aa31.jpg
Hai loại nước bà Phương từng dùng để viết mật thư "tàng hình" được lưu giữ tại Bảo tàng Biệt động Sài Gòn. Ảnh: Vũ Bình

Năm 1967, sau khi từ Campuchia trở về, bà được Quân khu Sài Gòn - Gia Định tiếp nhận. Đến năm 1971, bà về hoạt động tại Bộ Chỉ huy Quân khu ở căn cứ Củ Chi và được giao viết mật thư để giao liên chuyển vào nội đô.

Những lá thư được viết bằng loại mực đặc biệt, sau khi hoàn thành gần như không để lại dấu vết. Chỉ người biết cách mới có thể dùng “nước mở mực” làm chữ hiện ra.

Công việc đòi hỏi sự chính xác cao. Từng nét chữ phải rõ, không chồng lấn và đặc biệt không được để lại dấu vết của ngòi bút.

tp-c_img-1165.png
Bà Nguyễn Thị Phương - cựu chiến sĩ Biệt động Sài Gòn. Ảnh: Nguyễn Tiến

Trước đó, lực lượng cách mạng từng dùng nước cơm để viết mật thư nhưng phương pháp này dễ bị phát hiện. Một lá thư bị lộ có thể khiến người vận chuyển và cơ sở cách mạng đối mặt với nguy hiểm.

Điều đặc biệt, bí mật về công việc này được giữ kín ngay trong đơn vị.

“Kể cả những người trong Bộ Chỉ huy lúc bấy giờ cũng chỉ biết tôi nhập liệu, đánh máy, chứ không biết tôi chính là người viết những bức thư mật tàng hình”, bà Phương nhớ lại.

Bí mật được giữ kín

Bà Phương không phải người sáng chế hai loại “nước giấu mực” và “nước mở mực”, nhưng là một trong số ít người được cấp trên tin tưởng truyền lại công thức chế tạo cả hai.

Trong chiến tranh, việc phân tách thông tin là nguyên tắc bảo đảm an toàn. Người viết biết cách giấu mực, người nhận biết cách làm chữ hiện ra, hạn chế nguy cơ bí mật bị lộ nếu một bên bị bắt.

tp-c_img-1166.png
Bà Phương cho biết, người viết và người nhận thường không nắm toàn bộ quy trình để bảo đảm an toàn. Ảnh: Nguyễn Tiến

Có thời điểm, bà Phương trực tiếp mang mật thư đến cơ sở. Từ nội dung đến cách ngụy trang đều được tính toán kỹ. Bao gạo, bao thuốc, hay giấy bọc bánh mì đều có thể trở thành nơi cất giấu những mệnh lệnh quan trọng.

“Hiếm có ai biết công thức của cả hai loại. Đó là một trong những quy tắc để đảm bảo an toàn khi hoạt động trong chiến tranh”, bà nói.

Ngày nay, hai loại dung dịch được lưu giữ tại Bảo tàng Biệt động Sài Gòn. Riêng cách thức dấu mực và mở mực vẫn được bà Phương ghi nhớ trong đầu.

Sau nhiều thập kỷ, trong những lần gặp mặt đồng đội, bà mới có dịp tái hiện cách viết những lá mật thư tàng hình từng gắn với một phần cuộc đời hoạt động cách mạng của mình.

16 tuổi mang hàng chục ký vũ khí

Trước khi trở thành người viết những mật thư tàng hình, bà Nguyễn Thị Phương từng trải qua nhiều nhiệm vụ nguy hiểm.

biettt-14012089-1147.png
Nữ biệt động Nguyễn Thị Phương hồi trẻ.

Sinh ra và lớn lên tại Campuchia, trong gia đình có truyền thống yêu nước, bà trở về Việt Nam khi phong trào cách mạng trong cộng đồng người Việt tại đây phát triển. Bà ngoại là Mẹ Việt Nam anh hùng, trong 6 người con có 4 người tham gia cách mạng, 3 người hy sinh.

Năm 16 tuổi, vóc dáng nhỏ bé nhưng bà cùng đồng đội mang hàng chục ký vũ khí, băng qua những con đường tối, kênh rạch để đưa hàng vào chiến trường.

Cận chiến dịch Mậu Thân 1968, những tốp chiến sĩ trẻ âm thầm vận chuyển đạn dược, vũ khí. Có chuyến đỉa bám đầy chân, có lần cả nhóm trúng pháo, nhiều người hy sinh, những người còn lại bị thương.

“Lòng đau như cắt, nhưng chiến trường cần vũ khí và chúng tôi không được dừng bước”, bà kể.

Sau đó, bà tiếp tục vận chuyển vũ khí bằng xuồng, làm giao liên, rồi y tá. Sau Mậu Thân 1968, bà cùng đồng đội Nguyễn Thị Ánh (Tư Ánh) nhận nhiệm vụ đưa vũ khí bằng xuồng hai đáy.

tp-c_1787308928268-8533253184170276440-8533253184170276440-cde351ea9b6971309885621db31cc0c6.jpg
Bà Nguyễn Thị Phương cùng đồng đội tham gia chương trình “Trở về thời khắc thiêng liêng”, ôn lại những ký ức hào hùng của một thời chiến đấu. Ảnh: Nguyễn Tiến

Chiếc xuồng được thiết kế thêm một tầng đáy để cất giấu vũ khí, bên trên mọi hoạt động vẫn diễn ra như một chuyến vận chuyển dân sự bình thường.

Có lần, khi đồng đội lên bờ mua xăng, bà ở lại nấu cơm. Một chiếc bo bo chạy ngang tạo sóng mạnh khiến bếp dầu đổ, lửa bùng lên. Bà lập tức lấy khăn nhúng nước dập lửa, tránh để vũ khí và tuyến vận chuyển bí mật bị phát hiện.

“May mắn không gây thiệt hại gì, xem như qua được ải đó”, bà nhớ lại.

Nửa lời không khai

Một trong những ký ức ám ảnh nhất với bà Phương là lần bị bắt, khi bà mới 17 tuổi.

Sau năm 1968, lực lượng cách mạng ở Bến Tre liên tục đối mặt với các cuộc càn quét. Trước đó, đơn vị đã tính đến tình huống bị địch phát hiện và chỉ dẫn bà Phương khi có biến phải tìm đến một người phụ nữ trong một căn nhà đã được bố trí sẵn để ẩn náu.

tp-c_1787762907171-402604765315907490-6686740824109661432-f5c632a41df76db491d445269128811a.jpg
Bà Nguyễn Thị Phương được trao tặng Huân chương Kháng chiến hạng Ba vì những đóng góp trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Ảnh: Nguyễn Tiến

Một lần, cuộc càn quét diễn ra bất ngờ. Bà Phương không kịp rút cùng đơn vị nên tìm đến căn nhà theo chỉ dẫn. Tại đây, bà cùng người phụ nữ lớn tuổi bị đối phương bắt giữ và đưa đi tra hỏi.

Đối phương tra hỏi, yêu cầu bà khai nơi đóng quân của lực lượng cách mạng. Bà chỉ nhận mình là cháu ngoại của người phụ nữ đi cùng và nhất quyết không khai. Bị đánh đập, dìm xuống mương nước để ép cung, bà vẫn im lặng.

“Lúc đó, tôi chỉ nghĩ tới đồng đội. Nếu mình khai ra, những người phía sau sẽ bị bắt, sẽ bị tổn thất”, bà Nguyễn Thị Phương kể.

Sau đó, bà bị áp giải theo một cuộc hành quân. Khi trực thăng chuẩn bị hạ xuống giữa cánh đồng, lực lượng cách mạng bất ngờ nổ súng khiến máy bay không thể đáp. Nằm rạp giữa ruộng lúa, xung quanh là binh lính đối phương, bà nghĩ mình có thể hy sinh bất cứ lúc nào, nhưng bà may mắn sống sót.

1787308928188-8533253184170276440-8533253184170276440-f522cc43cb1b1d7d3eec924ec44d9e98.jpg
Bà Nguyễn Thị Phương cùng đồng đội tại chương trình “Trở về thời khắc thiêng liêng”, cùng ôn lại những ký ức của một thời chiến đấu. Ảnh: Nguyễn Tiến

Bà Phương nhớ như in khoảnh khắc an toàn trở về căn cứ. Khi ấy, đồng chí Hai Phụng, Tư lệnh Quân khu Sài Gòn - Gia Định, cùng các cán bộ lãnh đạo đang khẩn trương thu gom hành trang, chuẩn bị chuyển căn cứ vì lo bà bị địch bắt, có thể để lộ nơi đóng quân.

“Vừa thấy tôi trở về, anh em ai nấy đều vui mừng. Mọi người biết tôi bị địch bắt nhưng tôi không khai nửa lời. Sau chuyện đó, tôi càng được tin tưởng, giao nhiều nhiệm vụ hơn, từ làm giao liên, y tá, vận chuyển vũ khí bằng xuồng hai đáy, đến viết những mật thư tàng hình”, bà kể.

Hơn nửa thế kỷ trôi qua, bà vẫn nhớ cách viết những dòng chữ vô hình năm nào. Chỉ khi được phủ “nước mở mực”, những nét chữ bí mật mới từ từ hiện ra.

Những dòng chữ ấy từng mang theo thông tin sống còn. Trong chiến tranh, giữ kín một bí mật không chỉ là bảo vệ một mệnh lệnh mà có khi còn là bảo vệ cả cơ sở, đơn vị và tính mạng của những người đang hoạt động giữa lằn ranh sinh tử.