Thuyền trưởng tàu không số ẩn danh

Thuyền trưởng tàu không số ẩn danh

TP - Trung tá Hoàng Hữu (ngõ 69, Chợ Con, Hải Phòng) đã về hưu được 30 năm. Cả phố không ai biết trong ngõ nhỏ này có một thuyền trưởng tàu không số từng 6 lần cùng đồng đội đưa những con tàu chở khí tài, vượt hàng ngàn hải lý giữa sóng gió trùng khơi, trước sự canh phòng, săn lùng, truy đuổi ráo riết của kẻ thù để vào Nam an toàn góp phần làm nên huyền thoại đường Hồ Chí Minh trên biển.

Tàu không số - Ảnh tư liệu
Tàu không số - Ảnh tư liệu.

Những chuyến đi để đời

Năm 1953, Hoàng Hữu là lính của Sư đoàn 304 tham gia chiến dịch Thượng Lào, Hạ Lào. Năm 1955, ông trong đoàn 100 học viên sang học Hải quân ở Trung Quốc, môn pháo bờ biển. Năm 1964, Hoàng Hữu chuyển về Đồ Sơn, tập huấn chính trị, nghiệp vụ và là thuyền phó tàu 154 - một loại tàu 100 tấn vỏ sắt hai đáy do xưởng 3 Hải quân đóng để thực hiện nhiệm vụ vận tải hàng hóa chi viện cho chiến trường miền Nam. Ông là một trong hàng ngàn cán bộ chiến sỹ trong lực lượng vận tải tuyến đường mòn Hồ Chí Minh trên biển những ngày đánh Mỹ.

Ông Hoàng Hữu kể: “Nói là tàu không số nhưng thực ra lắm khi lại có nhiều số, đoạn này không số, đoạn sau có số, bên trái một số, bên phải một số... Để đảm bảo bí mật, tàu cũng mang bí danh và tất cả cán bộ, chiến sỹ trên tàu cũng đều mang bí danh. Tàu có cấu tạo hai đáy, ra tới hải phận quốc tế, tàu trở thành tàu ngư dân đánh cá.

Trên tàu gài hết kíp nổ với 4 hệ thống phá nổ tàu tùy tình hình cụ thể để bảo toàn tính mạng cán bộ chiến sỹ cũng như bí mật phương tiện vũ khí đạn dược. Về phía địch có các trạm ra đa quét Đà Nẵng, Năm Căn, Cà Mau, Côn Đảo. Máy bay, tàu chiến các loại đêm ngày tuần tiễu, máy bay trực thăng có lúc bay thấp chỉ cách tàu 2 chục mét, khiêu khích dọa dẫm...”.

Ông Hoàng Hữu kể chuyến vượt biển đầu tiên khởi hành đầu đông năm 1964, chuyến tàu mang tên “Nguyễn Văn Trỗi”. Chuyến này gồm 2 tàu 154 và 167 của Đoàn vận tải B. Tàu khởi hành lúc 1 giờ đêm, lấy “hàng” ở bến Bính Đồng, Thủy Nguyên, Hải Phòng. Sau đó tàu ra Bãi Cháy, hiệu chỉnh thành “tàu không số”. Thời điểm đó chưa có tên gọi đường Hồ Chí Minh trên biển. Trên tàu có 42 cán bộ chiến sỹ, anh Đinh Đạt là thuyền trưởng người Quảng Ngãi (đã hy sinh), điện tín viên Nguyễn Văn Đức người Bến Tre và thuyền phó số 2 là Đỗ Bé người miền Nam sau là Cảng trưởng cảng Ba Son.

Chuyến đó chở các loại vũ khí như tiểu liên, súng trường và tên lửa bộ binh… tất cả được giấu dưới đáy tàu thứ nhất. Đáy tàu thứ hai dùng ngư lưới cụ ngụy trang súng 12,7, ĐKZ, bom chìm, khói mù để sẵn sàng chiến đấu. Tất cả cán bộ chiến sỹ đều bận bộ đồ bà ba. Tàu xóa hết dấu vết, giống hệt một tàu đánh cá. Tàu qua một cảng của Trung Quốc tiếp thêm dầu và lấy thêm lương thực. Sau đó đi ra hải phận quốc tế và lênh đênh 14 ngày trên biển. Gần như cả tàu say sóng. Riêng Hoàng Hữu không say.

Nhiều lần gặp tàu địch nhưng chúng đều bị “lừa” là tàu cá. Lần đó tàu cập vào bến giữa Trà Vinh và Bến Tre. Từ chỉ huy đến chiến sỹ đều mừng rơi nước mắt, không chỉ vì 100 tấn vũ khí đạn dược đã lên bờ trót lọt mà đã tìm ra lộ trình trên biển tiền đề cho những chuyến hàng sau. Khi trở về, để đủ tải, tàu chở dừa nước. Về đến Thủy Nguyên, không dám cho dân vì sợ lộ hành tung, nửa đêm đem dừa quả chôn xuống bãi sông. Bây giờ những nơi đó đã trở thành rừng dừa là thế!

Chuyến thứ hai khởi hành đầu năm 1965, vào Cà Mau. Nhiều lần tàu địch áp mạn soi mói, các “ngư dân” trên tàu cũng sẵn sàng quyết tử cùng với con tàu nhưng rất may địch không phát hiện được gì nên chuyến này cũng trót lọt 100 tấn vũ khí chi viện cho chiến trường.

Chuyến thứ ba xuất phát 10-1965, vào Năm Căn. Có chở đặc công nước đi cùng. Điều đặc biệt của chuyến đi này là mức độ hoàn thành nhiệm vụ trên giao của tàu không số được chia thành nhiều nấc, mỗi nấc là một phương án tác chiến. Đơn cử, giao hàng xong, về an toàn là hoàn thành 100%, giao hàng an toàn nhưng không ra được là hoàn thành 50%. Và còn một nấc nữa, vào nhưng không cập bến phải thả hàng ngoài bãi cũng là đạt yêu cầu.

Như lần thứ ba này, tàu của bác Hoàng Hữu cùng đồng đội khi cách bờ 20 hải lý, trên đầu máy bay địch quần đảo, trên biển thì tàu chiến địch vây ráp, tàu cố tránh để vào điểm giao hàng nhưng cuối cùng phải thực hiện phương án thả hàng khi cách bờ 7 hải lý. Chuyến ấy tàu thả gần hết 100 tấn vũ khí đạn dược. Ngay đêm đó tổ đặc công nước đi trên tàu đã ở lại cùng với lực lượng địa phương lặn xuống mò phao chuyển hàng lên thuyền đưa vũ khí đạn dược vào bờ.

Chuyến thứ tư khởi hành đầu năm 1966, bác Hữu đã là thuyền trưởng. Lần này, tàu chở hàng loại mới. Vẫn đi theo lộ trình cũ. Tình hình mỗi ngày mỗi khó khăn nguy hiểm hơn. Phía địch có 4 trạm ra đa quét gần như kín mặt biển. Chuyến này bên cạnh vũ khí, tàu còn chở các tướng lĩnh quân đội vào chiến trường. Tàu đóng cửa kéo bảy tám lớp vải che để chống cả tia la-de. Còn duy nhất một cửa tròn nhỏ để thuyền trưởng chỉ huy.

Có những lúc trên hải phận quốc tế, hai tàu địch ép hai mạn sườn, thậm chí gọi đúng tên người trên tàu, nhưng bên ta cứ phớt lờ. Trên tàu gài hết kíp nổ cùng với 4 hệ thống phá, sẵn sàng xóa mọi dấu vết khi tình hình xấu xảy ra. Khoảng nửa đêm tàu đã cập vào khu vực Bến Tre, đưa an toàn số cán bộ cao cấp và vũ khí đạn dược vào đúng nơi quy định. Theo trung tá cựu binh Hoàng Hữu thì chuyến đi này nhiệm vụ nặng nề nhất và cũng thành công nhất!

Cựu binh Hoàng Hữu. Ảnh: Q.H
Cựu binh Hoàng Hữu. Ảnh: Q.H.

Và những chuyến tàu cao tốc bất ngờ

Chuyến thứ 5 xuất phát vào tháng 4-1968, lần này đi bằng tàu nhỏ nhanh, lộ trình sát bờ, chở từ 7 tấn hàng do thuyền trưởng trực tiếp lái. Lần này, “hàng” chủ yếu là tên lửa bộ binh, thuốc nổ sức công phá rất lớn. Đội hình có 2 tàu do Hoàng Hữu làm phân đội trưởng kiêm thuyền trưởng, còn tàu số 2 do thuyền trưởng Võ Đán lái. Lái tàu này đòi hỏi có sức khỏe rất tốt. Tàu chạy với tốc độ trên 100 hải lý/giờ, cột nước cao tới 25 m, lân tinh trắng xóa. Nên chỉ một đêm, 15 giờ chiều ăn cơm, 18 giờ tàu ở Long Châu, 23 giờ tàu đã “bay” đến Đà Nẵng chỗ Cù lao Chàm vào, giao hàng xong ra ngay, sáng đã về tới căn cứ Đồ Sơn.

Sau một đêm bay trên biển, người khỏe như bác Hữu mà vẫn mệt rã rời, lên bờ tưởng như không bước đi được nữa. Những chuyến vận tải kiểu “đặc công” như thế, đã đáp ứng kịp thời vũ khí đặc biệt cho chiến trường góp phần tạo nên những cơn “bão lửa” dội xuống căn cứ Chu Lai, Đà Nẵng, sân bay Nước mặn khiến đối phương hoàn toàn bất ngờ.

Chuyến thứ 6 đi vào cuối năm 1968, vẫn bằng phương tiện tàu nhỏ nhanh, chuyến này vào Quy Nhơn, vẫn chở tên lửa bộ binh, chất nổ mạnh, tiểu liên, súng ngắn giảm thanh trang bị cho biệt động... Đây cũng là chuyến đi cuối cùng của thuyền trưởng Hoàng Hữu bởi sau đó tình hình thay đổi.

Cựu binh Hoàng Hữu cho biết, không thể kể hết được những nguy hiểm, khó khăn của những người chiến sỹ trên tàu không số. Chính họ đã tạo nên con đường huyền thoại trên biển bằng những sáng tạo, linh hoạt bất ngờ và đã làm nên chiến thắng.

Cựu binh Hoàng Hữu đã nghỉ hưu được hơn 30 năm. Cả phố suốt thời gian dài không ai biết trong ngõ nhỏ này có một thuyền trưởng tàu không số - một thuyền trưởng mưu trí, dũng cảm, lập nhiều chiến công xuất sắc. Đến thăm gia đình ông, tôi cứ bùi ngùi vì những mất mát của riêng gia đình ông.

Cựu binh Hoàng Hữu âm thầm, lặng lẽ với nỗi đau mà như ông tỏ bày, có thấu gì đâu với nỗi đau một thời của dân tộc. Người anh trai duy nhất của ông đã hy sinh trong chiến dịch Điện Biên Phủ và con trai của ông cũng đã hy sinh trên mặt trận K. Cả hai cuộc chiến tranh đã đi qua bao nhiêu năm rồi nhưng đến bây giờ, gia đình vẫn ông chưa tìm được phần mộ những người thân yêu của mình.

Cùng chuyên mục

Bãi sậy sông Đầm là mái nhà yên bình của nhiều loài chim, trong đó có cả cò nhạn Ảnh: Đ.T

Về nơi đàn cò ở lại

TP - Có một nơi mà bao năm qua đàn cò hàng ngàn con chọn làm nhà, sáng chiều sải cánh tự do kiếm ăn, tối về ngủ bên rặng dừa mà chẳng mảy may lo bị bẫy bắt. Nơi ấy là bãi sậy sông Đầm (thuộc phường Bàn Thạch, thành phố Đà Nẵng).

Tượng đài Nguyễn Tất Thành – Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Trường Quốc học Huế Ảnh: QH Huế

130 năm trường Quốc học Huế: Ngôi trường của tuấn kiệt, anh thư

TP - Trong nhiều lần trò chuyện với thạc sĩ Sử học Nguyễn Đình Dũng, người từng dạy môn lịch sử ở Đại học Huế và cũng từng công tác tại Bảo tàng Hồ Chí Minh TP Huế, thường nghe anh nói rằng: “Trường Quốc học Huế là ngôi trường vĩ đại, là chiếc nôi đào tạo lớp lớp hiền tài đóng góp rất lớn cho lịch sử đất nước. Họ đích thực là những tuấn kiệt, anh thư. Trong đó có vai trò đặc biệt quan trọng của người học sinh Nguyễn Sinh Côn, sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại”.

Rắn độc và rừng hoang đã 'bỏ bùa' họ như thế đó

Rắn độc và rừng hoang đã 'bỏ bùa' họ như thế đó

TPO - Suốt nhiều năm, thỉnh thoảng tôi vẫn được những vị khách phương xa, trong đó có cả khách Âu - Mỹ, nhờ dẫn đến những khu nhà hàng đặc sản thịt rắn như Lệ Mật để “thử món lạ”. Có những nhà báo châu Âu quyết tâm trải nghiệm đến cùng, giá cả chẳng thành vấn đề, cứ như thể đã đặt chân đến Hà Nội mà chưa nếm thịt rắn thì chuyến đi vẫn còn thiếu một điều gì đó. Vậy mà, khi tận mắt thấy quả tim rắn vẫn còn đập trong chiếc cốc thủy tinh, bên cạnh là thứ tiết đỏ au được khuấy bằng một cọng sả trắng nõn, không ít người bỗng chốc đổi ý. Họ lịch sự xin phép được dừng lại ở mức “chiêm ngưỡng”, nhường phần “thưởng thức” cho những người can đảm hơn.

Ông Nguyễn Hồng Quang tỉ mỉ, chăm chút từng sản phẩm mới

Khắc khoải về làng gốm cổ Hương Canh

TP - Từng có gần 400 hộ làm nghề, gốm Hương Canh (xã Bình Nguyên, tỉnh Phú Thọ) nay chỉ còn 4 hộ bền bỉ giữ lửa cho nghề gốm cổ. Được tạo nên từ nguồn đất trầm tích đặc biệt của địa phương, dòng gốm sành không men nổi tiếng bởi độ bền chắc và sắc màu trầm mộc mạc đang đối mặt với những khó khăn về đầu ra và nguy cơ thiếu người kế nghiệp.

Anh Lưu Quang Hà bên sản phẩm bê tông nghệ thuật của Công ty

'Chúa chổm' xứ Tuyên đúc nên cơ nghiệp

TP - Lưu Quang Hà vừa rời giảng đường đại học, bước chân khởi nghiệp liền bị quỵt tiền, phải vay nặng lãi để sống. Ở nhà, bố mắc ung thư phổi, gia đình khánh kiệt, khiến anh Hà nhiều đêm bật khóc. Nhưng rồi, anh đứng dậy, gây dựng công ty chuyên làm sản phẩm bê tông nghệ thuật – ngành nghề mà anh được học, doanh thu tiền tỷ, tạo việc làm cho gần 20 lao động. Anh còn là Bí thư Chi đoàn ở tổ dân phố.

Công an cơ sở tuyên truyền, vận động người dân xóa bỏ hủ tục nghi kỵ “cầm đồ thuốc độc” Ảnh: NN

'Bóng ma đồ độc' ám ảnh vùng cao Quảng Ngãi

TP - Ở một số bản làng miền núi Quảng Ngãi, hủ tục nghi kỵ “cầm đồ thuốc độc” vẫn âm ỉ tồn tại, len vào những mâu thuẫn đời thường, những cơn bệnh chưa được lý giải bằng khoa học. Từ một lời phán của thầy cúng, hàng xóm có thể thành kẻ thù, người vô tội bị cô lập, đánh đập, thậm chí mất mạng.

Cán bộ Trạm Y tế xã Buôn Đôn đi bộ đến từng hộ dân tại buôn Đrăng Phốk để tiêm vắc xin cho trẻ

'Cõng' vắc xin tìm trẻ giữa đại ngàn

TP - Không để người dân vất vả đưa con đến trạm y tế, vào ngày 16 hằng tháng, cán bộ y tế xã vùng xa tỉnh Đắk Lắk vượt hơn 20km đường rừng đều đặn mang vắc xin vào tận buôn. Chuyến đi của họ đã mang thêm một lớp bảo vệ đến với những đứa trẻ nơi vùng lõi rừng, từng ngày rút ngắn giữa dịch vụ y tế và người dân.

Giếng cổ được người dân tự hào giới thiệu với khách đến thăm đảo

Bí ẩn giếng cổ ở xã đảo Đà Nẵng

TP - Giữa vùng biển đảo quanh năm nắng gió, nơi từng giọt nước ngọt quý hơn vàng, hai giếng cổ dưới chân núi Bàn Than ở Tam Hải vẫn trong veo, mát lành qua hàng trăm năm.

Cựu chiến binh Nguyễn Duy Kháng và cô giáo HươngẢnh: Lê Văn Chương

Những người lính ở lại núi Dàng-Bài cuối: Trái tim cô giáo trẻ dành trọn tiếng "tít te"

TP - Tháng 2/1970, bên dòng sông Vệ (Hành Thịnh, Quảng Ngãi), những chiếc HU-1A còn gọi là tàu rọ liên tục quần đảo, gầm rít trên bầu trời. Giữa khói lửa chiến tranh, trái tim một cô giáo trẻ lại bị cuốn vào âm thanh “tít te” không ngừng của một cậu lính thông tin quê Thái Bình. “Cái này bí mật, không thể giải thích” – chàng lính Nguyễn Duy Kháng mỉm cười nói với cô giáo Nguyễn Thị Thanh Hương về công việc của mình.

Cựu chiến binh Lại Vũ Yên và bà Nguyễn Thị Bè, mối tình và đám cưới trong chiến tranh, giờ đây đã hơn 50 năm Ảnh: Lê Văn Chương

Những người lính ở lại núi Dàng-Bài 2: Mối tình người lính quân y và nữ du kích

TP - Trước năm 1975, địch xem xã Hành Thịnh là một trong những cái gai rất khó nhổ. Bởi đây là một xã đồng bằng của Quảng Ngãi nhưng lại có rất nhiều ngọn núi: núi Dàng, núi Đuôi Chuột, núi Rố, núi Gò Đồn, núi và rừng Ông Đương, gò Rú. Địa thế hiểm trở vốn là lợi thế của quân giải phóng và là vùng đất chết đối với quân đội chính quyền Sài Gòn. Y sĩ Lại Vũ Yên đã trải qua những ngày gian nan tại đây, sau đó kết hôn với cô du kích…

 Ông Trương Minh Hải, Tổ trưởng Tổ cộng đồng bảo vệ nguồn lợi thủy sản phường Hồng Ngự chăm sóc đàn cá tự nhiên Ảnh: Hoà Hội

'Ngôi nhà' của đàn cá trên sông Tiền

TP - Xuất phát từ ý tưởng giữ cá lại với dòng sông, người dân vùng đầu nguồn Hồng Ngự (Đồng Tháp) đã biến đoạn bờ kè bình dị thành “bến đỗ an toàn” của đàn cá hàng nghìn con. Cá được cho ăn, bảo vệ và sinh trưởng tự nhiên. Mô hình độc đáo này không chỉ góp phần bảo vệ nguồn lợi thủy sản mà còn đánh thức tình yêu thiên nhiên trong cộng đồng.

Chiến dịch 500 ngày đêm đang được tổ chức tại nghĩa trang liệt sĩ Hành Thịnh, xã Đình Cương. Trong số các liệt sĩ nằm lại, có nhiều người là đồng đội của vợ chồng ông Tân Ảnh: Lê Văn Chương

Những người lính ở lại núi Dàng: Mối tình lính DKB và cô y tá

TP - Cách đây hơn nửa thế kỷ, khi đất nước hòa bình, hầu hết những người lính gác lại súng gươm để trở về với quê nhà, mang theo ký ức của một thời hoa lửa. Thế nhưng, tại xã Hành Thịnh (nay là xã Đình Cương) nằm dưới chân núi Dàng- vùng căn cứ cách mạng của Quảng Ngãi, vẫn có những người lính ở lại. Đầu tháng 9 này, họ đang lặng lẽ dõi theo từng nhát cuốc của Đội tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ đang thực hiện Chiến dịch 500 ngày đêm.