Nhân dịp Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam có chuyến thăm cấp Nhà nước tới Nga từ ngày 7-9/9, PV Tiền Phong có cuộc trao đổi với GS.VS Nguyễn Quốc Sỹ - Chủ tịch Viện Công nghệ VinIT, Giáo sư của Đại học Năng lượng Quốc gia Mátxcơva, về dư địa hợp tác giữa hai nước trong lĩnh vực năng lượng hạt nhân và khoa học – công nghệ.
Nguồn lực ổn định, đầu mối chịu trách nhiệm
PV: Theo ông, chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm lần này sẽ tạo ra chuyển biến gì cho hợp tác Việt - Nga trong những lĩnh vực khoa học – công nghệ mà Việt Nam đang ưu tiên thúc đẩy?
GS.VS Nguyễn Quốc Sỹ: Tôi kỳ vọng chuyến thăm sẽ tạo thêm động lực chính trị để quan hệ Việt - Nga bước sang một giai đoạn hợp tác thực chất, hướng vào những lĩnh vực có thể tạo năng lực mới cho cả hai bên. Các thông tin công bố về chuyến thăm nhấn mạnh việc mở rộng hợp tác ngoài các lĩnh vực truyền thống sang năng lượng, khoa học - công nghệ, y tế và các lĩnh vực phát triển mới. Đây là tín hiệu thuận lợi để các cơ quan, viện trường và doanh nghiệp chuyển các định hướng cấp cao thành chương trình cụ thể.
Với khoa học - công nghệ, điều quan trọng sau chuyến thăm không chỉ là ký thêm các biên bản ghi nhớ, mà là có các cơ chế triển khai. Tôi mong sẽ hình thành các quỹ hoặc chương trình đồng tài trợ cho đề tài chung, các phòng thí nghiệm liên kết, chương trình đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh, trao đổi nhà khoa học trẻ và mạng lưới kết nối doanh nghiệp - viện trường. Khi có nguồn lực ổn định và đầu mối chịu trách nhiệm, hợp tác sẽ bền vững hơn.
Đối với Việt Nam, các ưu tiên như năng lượng, trí tuệ nhân tạo, công nghệ số, vật liệu mới, y sinh, môi trường và không gian đều cần đối tác có năng lực khoa học sâu. Thông tin về chuyến công tác cũng cho thấy chương trình có nội dung liên quan đến hợp tác không gian vũ trụ. Điều đó gợi mở một tầm nhìn rộng hơn: khoa học - công nghệ có thể trở thành một trong những trụ cột quan trọng của quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt - Nga.
Tôi tin chuyển biến lớn nhất sẽ đến khi các nhà khoa học được trao cơ hội chủ động: cùng đề xuất đề tài, cùng làm chủ dữ liệu và thiết bị, cùng công bố và cùng đưa kết quả vào đời sống. Khi đó, hợp tác không chỉ được đo bằng số đoàn trao đổi hay số văn bản ký kết, mà bằng công nghệ được ứng dụng, đội ngũ được trưởng thành và những giá trị cụ thể đóng góp cho phát triển của hai nước Việt - Nga.
Thế mạnh về khoa học nền tảng
PV: Thưa Giáo sư, ông đã có nhiều thập niên học tập, nghiên cứu và giảng dạy tại Nga. Nhìn lại chặng đường đó, đâu là những giá trị lớn nhất mà hợp tác khoa học Việt - Nga đã mang lại cho nền khoa học Việt Nam?
Tôi cho rằng giá trị lớn nhất của hợp tác khoa học Việt - Nga không chỉ được đo bằng số người từng học tập tại Nga, hay số công trình đã hoàn thành, mà trước hết là ở việc hình thành một nền tảng tri thức và văn hóa khoa học cho nhiều thế hệ cán bộ Việt Nam.
Trong môi trường đào tạo và nghiên cứu của Nga, chúng tôi được tiếp cận khá bài bản với khoa học cơ bản, với cách đặt câu hỏi đến tận gốc của vấn đề và với yêu cầu nghiêm ngặt về phương pháp. Đó là những hành trang rất quan trọng khi trở về phục vụ đất nước.
Nga có truyền thống mạnh về toán học, vật lý, kỹ thuật, năng lượng, vũ trụ, vật liệu và nhiều ngành khoa học nền tảng. Điều quý là các thầy cô không chỉ truyền đạt kiến thức mà còn rèn cho học trò cách làm việc: tôn trọng dữ liệu, kiên trì trước một bài toán khó, sẵn sàng tranh luận học thuật và không thỏa hiệp với sự hời hợt. Những phẩm chất ấy có ý nghĩa lâu dài hơn một bằng cấp, bởi chúng theo người làm khoa học trong cả sự nghiệp.
Đối với Việt Nam, các thế hệ được đào tạo tại Liên Xô trước đây và Liên bang Nga sau này đã trở thành nguồn nhân lực quan trọng các cho trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp kỹ thuật và các cơ quan quản lý. Nhiều người đã tiếp tục đào tạo học trò, gây dựng nhóm nghiên cứu, kết nối đồng nghiệp quốc tế. Như vậy, hợp tác không dừng ở từng cá nhân mà tạo hiệu ứng lan tỏa qua nhiều thế hệ.
Một giá trị khác là mạng lưới tin cậy giữa các nhà khoa học. Hợp tác khoa học muốn bền vững phải dựa trên sự hiểu biết lẫn nhau, trên quan hệ thầy trò và đồng nghiệp, chứ không chỉ dựa vào văn bản. Khi đã có sự tin cậy, các nhà khoa học có thể cùng chia sẻ thiết bị, dữ liệu, kinh nghiệm và cùng theo đuổi những mục tiêu dài hạn. Đó là “cơ sở hạ tầng mềm” rất quý mà quan hệ Việt - Nga đã tích lũy được.
Trong giai đoạn mới, chúng ta cần kế thừa tinh thần đó nhưng đặt vào những yêu cầu mới của Việt Nam: Đổi mới sáng tạo, tự chủ công nghệ, chuyển đổi số, năng lượng sạch và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Hợp tác với Nga vì thế không chỉ là nhìn lại một truyền thống tốt đẹp, mà phải trở thành nguồn lực cho những nhiệm vụ phát triển hiện nay.
Không chờ bạn đề xuất đề tài
PV: Ngày nay, hợp tác Việt - Nga đang chuyển từ mô hình đào tạo và hỗ trợ sang cùng nghiên cứu, cùng phát triển công nghệ. Theo ông, Việt Nam cần làm gì để thực sự trở thành một đối tác khoa học của Nga?
Tôi nghĩ khái niệm “đối tác khoa học” đòi hỏi một sự thay đổi về tư duy. Chúng ta không nên chỉ chờ phía bạn đề xuất đề tài, cung cấp công nghệ hay đào tạo nhân lực, mà phải có năng lực xác định bài toán của chính mình và đưa ra các đề xuất hợp tác có giá trị. Khi Việt Nam biết rõ mình cần giải quyết vấn đề gì, có đội ngũ đủ năng lực và có cơ chế triển khai, hợp tác mới thực sự bình đẳng và hiệu quả.
Việc đầu tiên là lựa chọn đúng các ưu tiên. Không nên dàn trải ở quá nhiều lĩnh vực mà cần tập trung vào những hướng vừa phù hợp với nhu cầu phát triển của Việt Nam, vừa có thế mạnh bổ trợ của Nga, như năng lượng hạt nhân, plasma và vật liệu mới, công nghệ sinh học, y học hạt nhân, công nghệ số, tự động hóa, hàng không - vũ trụ, môi trường và nông nghiệp công nghệ cao. Mỗi hướng cần có một chương trình hợp tác đủ dài để kết quả nghiên cứu có thời gian chín muồi.
Việc thứ hai là đầu tư vào năng lực trong nước. Nếu phòng thí nghiệm, nhóm nghiên cứu và cơ chế tài chính của ta còn manh mún, các dự án quốc tế rất dễ chỉ dừng ở trao đổi đoàn hoặc công bố chung. Việt Nam cần xây dựng các nhóm mạnh có khả năng tiếp nhận công nghệ, làm chủ một phần công nghệ và phát triển tiếp theo điều kiện của mình. Hợp tác quốc tế tốt nhất là hợp tác làm tăng nội lực chứ không tạo ra sự phụ thuộc.
Việc thứ ba là tổ chức nghiên cứu theo sản phẩm và chuẩn mực quốc tế. Một đề tài chung cần trả lời rõ: bài toán là gì, sản phẩm khoa học hoặc công nghệ nào sẽ được tạo ra, quyền sở hữu trí tuệ được xử lý ra sao, đơn vị nào sẽ ứng dụng, kinh phí và trách nhiệm của mỗi bên như thế nào. Các tiêu chí đó giúp các nhà khoa học chuyển từ giao lưu sang đồng phát triển công nghệ.
Cuối cùng, rất cần tạo điều kiện cho các nhà khoa học trẻ. Họ cần được tham gia từ đầu vào các dự án chung, được làm việc dài hạn tại phòng thí nghiệm đối tác và được trao quyền khi trở về. Có như vậy, hợp tác hôm nay mới tạo được lớp kế cận cho 10 - 20 năm sau.
(Ảnh minh hoạ)
Nhìn dài hạn về năng lượng hạt nhân
PV: Việt Nam đã ký thỏa thuận với Nga về xây dựng Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1. Nếu nhìn vấn đề năng lượng hạt nhân không chỉ dưới góc độ một dự án điện mà là một “hệ sinh thái khoa học - công nghệ”, ông nhìn nhận như thế nào về triển vọng hợp tác Việt - Nga trong lĩnh vực này?
Tôi cho rằng cần nhìn điện hạt nhân như một chương trình khoa học - công nghệ và công nghiệp tổng hợp của quốc gia. Một nhà máy điện hạt nhân không chỉ là nơi phát điện; đằng sau nó là hệ thống rất lớn về thiết kế, xây dựng, vận hành, an toàn, kiểm định, bảo đảm chất lượng, vật liệu, điều khiển, pháp quy, quản lý chất thải, ứng phó sự cố và truyền thông với công chúng. Nếu chuẩn bị tốt, đây sẽ là động lực nâng cao mặt bằng công nghệ của nhiều ngành trong nước.
Theo thông tin được công bố về hợp tác Việt - Nga, dự án Ninh Thuận 1 được định hướng gồm hai tổ máy, tổng công suất dự kiến khoảng 2.400 MW, sử dụng công nghệ VVER-1200 của Rosatom. Ý nghĩa của thông tin này là Việt Nam cần sớm chuẩn bị đồng bộ nguồn nhân lực, cơ chế quản trị và năng lực kỹ thuật tương ứng, thay vì chỉ chuẩn bị cho phần xây dựng nhà máy.
Ở góc độ hệ sinh thái, điều quan trọng là xây dựng được chuỗi liên kết giữa cơ quan quản lý, trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và địa phương. Các trường cần đào tạo kỹ sư và chuyên gia; viện nghiên cứu phải làm chủ các vấn đề an toàn, vật liệu, mô phỏng và đo lường; doanh nghiệp phải tham gia từng bước vào chuỗi cung ứng phù hợp; còn cơ quan quản lý cần xây dựng năng lực pháp quy độc lập và minh bạch.
Hợp tác với Nga có thể hỗ trợ Việt Nam ở nhiều tầng nấc: từ đào tạo tại các cơ sở chuyên ngành, thực tập tại nhà máy và viện nghiên cứu, chuyển giao kinh nghiệm xây dựng tiêu chuẩn, cho tới triển khai các đề tài nghiên cứu chung. Tuy nhiên, nguyên tắc xuyên suốt phải là an toàn cao nhất, tuân thủ pháp luật, đánh giá khoa học độc lập và công khai thông tin một cách có trách nhiệm đối với người dân.
Nếu làm tốt, dự án có thể tạo ra những hiệu ứng tích cực cho khoa học Việt Nam: Nâng cao năng lực tính toán, công nghệ cảm biến, tự động hóa, vật liệu, cơ khí chính xác và quản trị dự án lớn. Đây chính là cách nhìn dài hạn: phát triển điện hạt nhân đi cùng phát triển năng lực quốc gia.
Cảm ơn ông.
GS.VS Nguyễn Quốc Sỹ là chuyên gia cao cấp trong lĩnh vực nghiên cứu và ứng dụng plasma nhiệt độ thấp. Ông từng học tại Đại học Bách khoa Leningrad (Đại học Bách khoa Saint Petersburg), làm việc trong Phòng thí nghiệm trọng điểm của Nga về Vật lý và Công nghệ Plasma. Ông từng được trao nhiều giải thưởng, bằng khen từ Hội đồng khoa học, Hiệu trưởng Đại học Bách khoa Leningrad và Hội đồng thành phố Leningrad vì những thành tích trong nghiên cứu khoa học.