Tách môn Lịch sử, Địa lý, Khoa học tự nhiên hay tiếp tục tích hợp?

Sau 5 năm triển khai, dạy học tích hợp vẫn bộc lộ những vướng mắc trong cách kết nối kiến thức giữa các lĩnh vực. Giáo viên và chuyên gia cho rằng, rà soát chương trình, sách giáo khoa cần làm rõ nội dung nào nên dạy riêng, nội dung nào cần tích hợp, tránh tình trạng ghép môn cơ học.

Giáo viên kiến nghị điều chỉnh từ thực tế

Từ thực tế giảng dạy tại Gia Lai, thầy Vũ Văn Tùng, giáo viên Trường Tiểu học & Trung học cơ sở Đinh Núp, xã Pờ Tó, tỉnh Gia Lai cho rằng việc tổ chức dạy học tích hợp cần tính đến điều kiện và nền tảng của học sinh. Ở những địa bàn khó khăn, vốn tiếng Việt, khả năng đọc hiểu và kiến thức cơ bản của học sinh không đồng đều. Đây là những yếu tố cần được cân nhắc khi thiết kế nội dung và yêu cầu học tập, nhất là với các nhiệm vụ đòi hỏi học sinh kết nối kiến thức từ nhiều lĩnh vực.

Còn thầy Phạm Hoài Nam, giáo viên Ngữ văn tại TP.HCM, kiến nghị nghiên cứu tách môn Lịch sử và Địa lý thành hai môn độc lập, đồng thời xem xét phương án tách Khoa học tự nhiên thành Vật lý, Hóa học và Sinh học.

Theo thầy Nam, việc rà soát cần căn cứ vào thực tế triển khai và yêu cầu chuyên môn của từng lĩnh vực. Khi giáo viên được đào tạo chuyên sâu một môn nhưng phải đảm nhiệm thêm kiến thức thuộc những lĩnh vực khác, cần xem xét mức độ phù hợp giữa yêu cầu giảng dạy với chuyên môn được đào tạo.

tienphong-1510gd.jpg
Rà soát các môn tích hợp cần làm rõ nội dung nào phù hợp để tích hợp và cách tổ chức dạy học nhằm tăng cường kết nối kiến thức giữa các lĩnh vực.

Cùng đề cập việc điều chỉnh cấu trúc các môn học, thầy Trần Trung Hiếu, giáo viên dạy môn Lịch sử Trường THPT chuyên Phan Bội Châu, Nghệ An, cho rằng nếu xem xét điều chỉnh Lịch sử và Địa lý thì cũng cần đánh giá môn Khoa học tự nhiên, thay vì chỉ xử lý riêng lẻ từng môn.

Phó giáo sư - tiến sĩ Trần Thành Nam, Hiệu trưởng Trường ĐH Giáo dục, ĐHQG Hà Nội, nhìn nhận một trong những vướng mắc của dạy học tích hợp là việc kết nối kiến thức giữa các lĩnh vực chưa thực sự chặt chẽ. Có trường hợp, mỗi giáo viên phụ trách một phần kiến thức thuộc chuyên môn của mình, khiến các nội dung giống như những mảnh ghép rời rạc. Theo ông, thực tế này là vấn đề cần được xem xét khi đánh giá quá trình triển khai các môn tích hợp.

Tuy nhiên, ông Trần Thành Nam nhấn mạnh, định hướng kết nối kiến thức liên ngành theo mô hình STEM, STEAM vẫn cần được duy trì. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để việc tích hợp thực chất hơn, thay vì chỉ ghép các phần kiến thức thuộc những lĩnh vực khác nhau vào cùng một môn học.

Từ những ý kiến trên, việc rà soát các môn tích hợp không chỉ là lựa chọn giữa tách môn hay giữ nguyên cấu trúc hiện tại, mà còn cần làm rõ nội dung nào thực sự phù hợp để tích hợp và cách tổ chức dạy học ra sao để tạo được sự kết nối giữa các lĩnh vực.

Xác định nội dung nào nên tích hợp, nội dung nào nên dạy riêng

Phó giáo sư - tiến sĩ Trần Xuân Nhĩ, Phó Chủ tịch Thường trực Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ GD&ĐT, cho rằng cần phân biệt tích hợp thực chất với việc ghép nhiều môn học vào cùng một đầu mục.

Với môn Khoa học tự nhiên, nếu các mạch kiến thức Vật lý, Hóa học và Sinh học vẫn được tổ chức riêng rẽ, thiếu kết nối trong nội dung và hoạt động học tập, việc đặt chung dưới một tên gọi chưa đủ để tạo ra một môn học tích hợp đúng nghĩa.

Theo ông Trần Xuân Nhĩ, việc lựa chọn nội dung cần có trọng tâm, tránh trùng lặp và bảo đảm tính khoa học. Không nhất thiết phải gộp toàn bộ các môn thành một môn học chung mới có thể thực hiện tích hợp. Có những nội dung nên được dạy thành môn riêng nhưng vẫn có thể kết nối thông qua chủ đề, nhiệm vụ hoặc hoạt động học tập phù hợp.

Việc điều chỉnh các môn tích hợp cần căn cứ vào nội dung từng môn học, đội ngũ giáo viên và khả năng tiếp nhận kiến thức của học sinh.

tienphong-1510gd1.jpg
Thầy Trần Trung Hiếu, giáo viên dạy môn Lịch sử cho rằng nếu điều chỉnh Lịch sử và Địa lý thì cũng cần đánh giá môn Khoa học tự nhiên, thay vì chỉ xử lý riêng lẻ từng môn.

Phó giáo sư - tiến sĩ Phạm Mạnh Hà, Khoa Khoa học và Công nghệ giáo dục, Đại học Bách khoa Hà Nội, cũng nhấn mạnh mối liên hệ logic giữa các lĩnh vực khi thiết kế nội dung tích hợp. Việc kết nối cần giúp học sinh sử dụng kiến thức ở lĩnh vực này để hiểu vấn đề thuộc lĩnh vực khác, thay vì chỉ đặt các phần kiến thức cạnh nhau.

Chẳng hạn, khi tìm hiểu một sự kiện lịch sử, học sinh có thể xem xét địa điểm, địa hình hoặc không gian diễn ra sự kiện để hiểu rõ hơn bối cảnh. Đây là một ví dụ về khả năng kết nối kiến thức Lịch sử và Địa lý ở những nội dung phù hợp, không đồng nghĩa toàn bộ hai lĩnh vực đều phải được tổ chức thành một môn học chung.

Với Khoa học tự nhiên, việc lựa chọn nội dung tích hợp cũng cần căn cứ vào mối liên hệ giữa các lĩnh vực. Những chủ đề cần huy động kiến thức Vật lý, Hóa học và Sinh học để giải thích một hiện tượng có thể tạo cơ hội cho học sinh vận dụng kiến thức liên môn. Trong khi đó, những khái niệm nền tảng và phương pháp đặc thù của từng lĩnh vực vẫn cần được tổ chức rõ ràng để học sinh nắm vững.

Từ những ý kiến này, vấn đề đặt ra khi rà soát không chỉ là giữ hay tách tên môn học, mà còn là cách lựa chọn, sắp xếp và tổ chức nội dung. Với từng môn, cần xem xét phần kiến thức nào có thể kết nối để hỗ trợ việc hiểu và vận dụng, phần nào cần được dạy riêng nhằm bảo đảm yêu cầu kiến thức nền tảng.

Tách môn hay tích hợp đều phải thiết kế lại chương trình

Theo kiến nghị của thầy Phạm Hoài Nam, việc nghiên cứu tách Lịch sử, Địa lý và xem xét cấu trúc môn Khoa học tự nhiên cần gắn với thực tế giảng dạy. Tuy nhiên, nếu thay đổi cấu trúc môn học, nội dung chương trình cũng cần được xem xét tương ứng, không chỉ chia các mạch kiến thức hiện có thành những môn riêng.

Nếu Khoa học tự nhiên được tổ chức thành Vật lý, Hóa học và Sinh học, cần xác định nội dung, yêu cầu cần đạt và thời lượng của từng môn. Với Lịch sử và Địa lý, việc tổ chức thành hai môn độc lập cũng cần làm rõ yêu cầu kiến thức của từng lĩnh vực, đồng thời xem xét những chủ đề có thể kết nối trong hoạt động học tập.

Ở chiều ngược lại, nếu tiếp tục duy trì các môn tích hợp, chương trình và sách giáo khoa cần thể hiện rõ hơn mối liên hệ giữa các lĩnh vực. Theo quan điểm của Phó giáo sư - tiến sĩ Phạm Mạnh Hà, sự kết nối cần có ý nghĩa đối với việc hiểu và vận dụng kiến thức; nếu các phần nội dung chỉ được đặt cạnh nhau, mục tiêu tích hợp khó thể hiện rõ trong quá trình học tập.

Việc điều chỉnh cũng liên quan đến điều kiện triển khai tại các trường. Nếu tách môn, cần xem xét khả năng bố trí giáo viên theo chuyên môn, thời khóa biểu và tổng thời lượng học tập. Nếu tiếp tục tích hợp, cần đánh giá cách tổ chức dạy học và phối hợp giữa giáo viên phụ trách các mạch kiến thức, bảo đảm nội dung được triển khai liền mạch.

Thầy Vũ Văn Tùng lưu ý điều kiện và nền tảng của học sinh cần được tính đến trong tổ chức dạy học. Với những địa bàn có sự chênh lệch về vốn tiếng Việt, khả năng đọc hiểu và kiến thức cơ bản, việc thiết kế nội dung và yêu cầu học tập cần phù hợp với khả năng tiếp nhận của học sinh. Yếu tố này cần được xem xét dù chương trình lựa chọn phương án tách môn hay tiếp tục tích hợp.

Kiểm tra, đánh giá cũng là nội dung cần rà soát cùng với chương trình và sách giáo khoa. Với môn tích hợp, cần xem xét cách đánh giá khả năng kết nối, vận dụng kiến thức ở những nội dung phù hợp. Nếu tách môn, việc đánh giá cần đáp ứng yêu cầu kiến thức nền tảng của từng môn, đồng thời vẫn tạo cơ hội để học sinh vận dụng điều đã học vào thực tế.

Sau 5 năm triển khai Chương trình giáo dục phổ thông 2018, các ý kiến từ giáo viên và chuyên gia cho thấy việc rà soát môn tích hợp cần xem xét cả cấu trúc môn học lẫn cách lựa chọn, tổ chức nội dung. Kiến nghị tách môn của giáo viên và yêu cầu kết nối kiến thức thực chất từ các chuyên gia là những vấn đề cần được đặt lên bàn cân khi đánh giá chương trình.

Việc lựa chọn phương án nào cần dựa trên đánh giá cụ thể từng môn, nội dung kiến thức, điều kiện đội ngũ và khả năng tiếp nhận của học sinh. Đây cũng là cơ sở để xem xét điều chỉnh chương trình, sách giáo khoa và cách tổ chức dạy học trong thời gian tới.

Cùng chuyên mục

Các nhà khoa học Việt Nam trên bảng xếp hạng ảnh hưởng thế giới năm 2026

Các nhà khoa học Việt Nam trên bảng xếp hạng ảnh hưởng thế giới năm 2026

Vừa qua, Bảng Xếp hạng các Nhà khoa học có Ảnh hưởng nhất Thế giới 2026 do GS. John P. A. Ioannidis cùng các cộng sự tại Đại học Stanford (Hoa Kỳ) và Elsevier đã chính thức được công bố đầu tháng 10/2026. Bảng xếp hạng được xây dựng từ dữ liệu Scopus của Elsevier với trên hơn 7 triệu nhà khoa học toàn cầu. Các nhà khoa học được phân vào 20 lĩnh vực và 174 ngành hẹp. Chỉ những người thuộc top 2% dẫn đầu của ngành hoặc 100.000 người có c-score cao nhất mới có tên trong danh sách. Theo công bố vừa qua, Việt Nam có 280 nhà khoa học thuộc 70 cơ sở giáo dục và nghiên cứu góp mặt trong Xếp hạng theo Năm 2025 và 121 nhà khoa học thuộc 40 cơ sở giáo dục có mặt trong Xếp hạng theo Thành tựu Trọn đời.

Hà Nội có 37 thủ khoa thi học sinh giỏi

Hà Nội có 37 thủ khoa thi học sinh giỏi

TPO - Theo kết quả thi học sinh giỏi thành phố Hà Nội năm học 2026 - 2027 do Sở GD&ĐT công bố hôm nay (13/10), có 37 thủ khoa các môn thi. So với năm ngoái, năm nay số thủ khoa tăng 3 em.

Thủ tướng nêu năm nhiệm vụ cho Đại học Quốc gia TPHCM

Thủ tướng nêu năm nhiệm vụ cho Đại học Quốc gia TPHCM

TPO - Dự lễ khai khóa Đại học Quốc gia TPHCM, Thủ tướng yêu cầu hoàn thiện cơ chế chuyển giao, thương mại hóa kết quả nghiên cứu; đồng thời đề nghị Đại học kết nối đào tạo, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo thành một chuỗi thống nhất.

Sách giáo khoa được Ban Bí thư đưa vào chuyên đề giám sát năm 2026

Sách giáo khoa được Ban Bí thư đưa vào chuyên đề giám sát năm 2026

TPO - Đoàn giám sát của Ban Bí thư do Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Trịnh Văn Quyết làm Trưởng đoàn sẽ giám sát chuyên đề giáo dục phổ thông đối với Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ GD&ĐT, trọng tâm vào sách giáo khoa, công tác quản lí, tổ chức, bộ máy, cán bộ, giáo viên của các trường phổ thông; việc đầu tư xây dựng các trường phổ thông...

C-Korea kết nối chuyên gia Hàn Quốc, mở rộng cơ hội học tập và nghề nghiệp ngành điều dưỡng

C-Korea kết nối chuyên gia Hàn Quốc, mở rộng cơ hội học tập và nghề nghiệp ngành điều dưỡng

Ngày 17/10/2026, tại Hà Nội, Công ty TNHH Văn hóa và Tư vấn Du học C-Korea sẽ tổ chức diễn đàn hướng nghiệp quốc tế “Korea Next Career 2026”, quy tụ đại diện các tổ chức giáo dục, trường đại học/cao đẳng Hàn Quốc và chuyên gia trong lĩnh vực đào tạo nhân lực điều dưỡng. Chương trình hướng tới việc cung cấp thông tin chính thống về xu hướng ngành nghề, lộ trình học tập và cơ hội phát triển nghề nghiệp cho giới trẻ Việt Nam.

Chuyên gia lý giải phía sau những lời 'con ghét bố mẹ'

Chuyên gia lý giải phía sau những lời 'con ghét bố mẹ'

TPO - Nhóm “Con ghét bố mẹ” thu hút sự chú ý khi nhiều trẻ chia sẻ những tổn thương, mâu thuẫn trong gia đình, đặt ra câu hỏi về khoảng cách giữa cha mẹ và con cái. Theo chuyên gia tâm lý, đằng sau những lời phản kháng có thể không phải là sự vô ơn hay nổi loạn, mà là cảm giác tủi thân, bất lực khi không được lắng nghe, thấu hiểu. Thay vì vội phán xét, người lớn cần nhìn nhận đây là tín hiệu cảnh báo về chất lượng giao tiếp giữa các thế hệ, từ đó tìm cách kết nối và hàn gắn.

16 trường đại học Việt Nam có doanh thu nghìn tỷ

16 trường đại học Việt Nam có doanh thu nghìn tỷ

TPO - Nhóm 16 cơ sở giáo dục đại học có doanh thu nghìn tỷ gồm những cơ sở có lịch sử hàng chục năm, quy tụ cả trường công lập, tư thục, với quy mô và lĩnh vực đào tạo khác nhau và chủ yếu tập trung ở TPHCM và Hà Nội.

'Chạm số - Sống xanh': Gen Z làm chủ tài chính trong thời đại số

TPO - Sáng 12/10, tại Học viện Ngân hàng, tọa đàm “Chạm số - Sống xanh” trong khuôn khổ Ngày Thanh toán số Việt Nam 2026 đã mang đến cho sinh viên những góc nhìn về thanh toán số, quản lý tài chính cá nhân, an toàn giao dịch và lối sống xanh, tiêu dùng có trách nhiệm.