Tâm thư gửi Phó Thủ tướng và những dự báo thành sự thật
Thưa PGS.TS Bùi Ngọc Sơn, năm 2014, sau khi kỳ thi "3 chung" kết thúc, lãnh đạo Bộ GD&ĐT từng khẳng định, mô hình này sẽ ổn định đến năm 2020. Tuy nhiên ngay sau đó, Bộ GD&ĐT lại chuyển sang mô hình thi "2 trong 1" (vừa xét tốt nghiệp, vừa làm căn cứ tuyển sinh Đại học) từ năm 2015. Được biết thời điểm đó, ông từng gửi một bức tâm thư tới Phó Thủ tướng phụ trách ngành. Nội dung cốt lõi của bức thư đó là gì và vì sao ông lại lo lắng khi một kỳ thi phải gánh hai mục tiêu?
Khoảng tháng 9 - 10/2014, tại hội nghị tổng kết tuyển sinh, Bộ GD&ĐT giao các trường tự xây dựng đề án tuyển sinh từ năm 2015 trên tinh thần cải tiến "3 chung", tăng tính tự chủ cho các trường. Tuy nhiên sau đó, quyết định tiến hành thi "2 trong 1" ngay từ năm 2015 được đưa ra.
Là người theo dõi quản lý đào tạo và làm Trưởng ban Thanh tra tuyển sinh từ năm 1998, tôi hiểu không có phương thức tuyển sinh nào hoàn hảo tuyệt đối. Nhưng đặt trong điều kiện thực tiễn của Việt Nam, khi ý thức tuân thủ pháp luật chưa đồng đều, nạn tiêu cực còn phức tạp, thì mô hình "2 trong 1" chính là "mảnh đất màu mỡ" phát sinh tiêu cực.
Trong bức tâm thư gửi Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam lúc bấy giờ, tôi đã phân tích và dự báo trước những kẽ hở không thể chống nổi nếu giao kỳ thi về địa phương tổ chức. Ưu điểm lớn nhất và duy nhất của "2 trong 1" là giúp gia đình thí sinh đỡ tốn kém chi phí đi lại.
Nhưng cái giá phải trả ngược lại quá lớn: Sự mất công bằng, tiêu cực nặng nề trong coi thi và chấm thi, sai lệch kết quả và không tuyển đúng nguồn nhân tài cho đất nước. Thực tế các đại án gian lận thi cử tại Hà Giang, Hòa Bình, Sơn La hay những vụ việc xử lý sai phạm tại Tuyên Quang sau này đã chứng minh những lo ngại đó hoàn toàn có cơ sở.
Ông từng đề cập một hiện tượng bất thường về dữ liệu tuyển sinh vào Trường Đại học Ngoại thương ngay trong năm đầu tiên thực hiện kỳ thi "2 trong 1" (2015). Sự bất thường đó được thể hiện như thế nào, thưa ông?
Thời điểm đó, với cương vị là người quản lý, tôi đã đề nghị bộ phận chức năng phân tích dữ liệu đầu vào. Kết quả cho thấy một xu hướng thay đổi đột ngột: Tỷ lệ học sinh các trường chuyên, danh tiếng ở Hà Nội như THPT chuyên Hà Nội Amsterdam, THPT Chu Văn An trúng tuyển vào Ngoại thương giảm đi vì các điểm thi ở Hà Nội tổ chức coi thi và chấm thi nghiêm túc hơn; ngược lại, tỷ lệ thí sinh ở một số tỉnh vùng sâu, vùng xa trúng tuyển lại tăng cao một cách bất thường.
Tôi cho rằng, nguyên nhân sâu xa chính là khâu coi thi và chấm thi ở một số địa phương làm không nghiêm, thậm chí cố ý tiêu cực. Đến mức có trường hợp thí sinh ở Hòa Bình đạt thủ khoa đầu vào một trường Sư phạm lớn, tuyên bố phấn đấu làm thủ khoa đầu ra, nhưng chỉ sau một năm, cơ quan công an vào cuộc thì phát hiện điểm gian lận tới hàng chục điểm. Nếu cứ giao cho địa phương tổ chức thi và chấm thi, tôi khẳng định không bao giờ giảm được tiêu cực.
"Bây giờ để đánh đổi chi phí mỗi gia đình bỏ ra một vài triệu đồng đổi lấy sự công bằng, chính xác của kỳ thi và tuyển đúng nguồn nhân tài cho đất nước, thì chi phí đó quá nhỏ. Đừng vì tiếc một vài triệu đồng đi lại mà phải trả một cái giá quá lớn về chất lượng giáo dục", PGS.TS Bùi Ngọc Sơn.
Hoàn thiện mô hình "3 chung" trong bối cảnh mới
Bên cạnh tổ chức thi tại địa phương, theo ông, những yếu tố kỹ thuật nào khác đang vô tình tiếp tay cho hành vi gian lận?
Có hai vấn đề kỹ thuật lớn. Thứ nhất là thi trắc nghiệm. Với môn Toán thi tự luận, bài làm dài 4-6 trang A4, thí sinh muốn chép của nhau mất cả tiếng đồng hồ. Nhưng với trắc nghiệm, việc gian lận hay chép đáp án chỉ mất vài phút.
Thứ hai, tô đáp án bằng bút chì. Việc sử dụng bút chì giúp thao tác tẩy xóa, sửa chữa câu trả lời trên phiếu bài làm diễn ra nhanh chóng và dễ dàng ngay trong khâu chấm thi. Nếu quy định bắt buộc làm bằng bút mực, cán bộ chấm thi tiêu cực sẽ không thể tự ý sửa bài của thí sinh.
Do đó, tôi kiến nghị phải hạn chế thi trắc nghiệm. Các môn cốt lõi như Toán, Văn phải thi tự luận; có chăng chỉ nên áp dụng trắc nghiệm với môn Ngoại ngữ nhưng phải rọc phách nghiêm ngặt.
Có người cho rằng, hiện tượng thí sinh vùng xa đỗ cao là do đề thi giảm độ khó để phục vụ mục tiêu xét tốt nghiệp nên không còn tính phân hóa. Ông đánh giá quan điểm này như thế nào?
Đề thi nhẹ hơn cũng là một phần nguyên nhân, nhưng đó không phải nguyên nhân cơ bản. Gốc rễ vấn đề vẫn nằm ở khâu coi thi và khâu chấm thi. Nếu xử lý sai phạm theo kiểu phát hiện ở đâu xử lí tại đó thì mới chỉ giải quyết "phần ngọn". Xử lý xong vụ này sẽ lại nảy sinh vụ khác với mức độ tinh vi hơn.
Vậy theo ông, chúng ta cần thay đổi mô hình thi như thế nào để vừa giảm tốn kém cho xã hội, vừa đảm bảo tính công bằng và tin cậy?
Chúng ta phải tách bạch rõ ràng hai mục tiêu và hoàn thiện lại mô hình "3 chung" theo hướng hiện đại.
Đối với việc xét tốt nghiệp THPT, khi tỷ lệ đỗ tốt nghiệp nhiều năm qua luôn xấp xỉ 99%, một kỳ thi mà tỷ lệ đỗ gần như tuyệt đối thì không nhất thiết phải tổ chức cồng kềnh. Nên giao hẳn về cho các Sở GD&ĐT hoặc chính các trường THPT tự xét tốt nghiệp một cách nhẹ nhàng, đơn giản.
Đối với việc tuyển sinh đại học, phải do các trường đại học chủ trì tổ chức. Bộ GD&ĐT chỉ đóng vai trò ban hành quy chế, chủ trì xây dựng ngân hàng đề thi và giám sát.
Nếu các trường đại học được giao chủ trì, liệu có thể tổ chức ngay tại địa phương để thí sinh không phải di chuyển xa lên các thành phố lớn không, thưa ông?
Hoàn toàn có thể tổ chức theo các cụm thi tại địa phương (mỗi huyện cũ/vùng đặt một điểm thi tập trung). Địa phương chỉ làm nhiệm vụ hỗ trợ cơ sở vật chất. Toàn bộ lực lượng coi thi, thu bài và mang bài về chấm phải do các trường đại học uy tín trực tiếp đảm nhiệm. Giáo viên phổ thông tại nơi đó tuyệt đối không can thiệp vào quá trình coi thi.
Một số người nêu quan điểm nên áp dụng hình thức thi trên máy tính hoặc học tập các nước tiên tiến là bỏ thi đại học, cho nhập học tự do rồi xét lọc dần. Ông nhìn nhận các phương án này ra sao trong điều kiện Việt Nam?
Về thi trên máy tính, ở nước ngoài có thể tốt, nhưng tại Việt Nam hiện nay rất rủi ro. Con người điều khiển máy tính chứ máy tính không điều khiển con người. Thực tế trước đây tại một số cơ sở áp dụng thi máy, đã xuất hiện tiêu cực như can thiệp phần mềm hay nhập điểm cho trường hợp không đi thi.
Về phương án không thi Đại học, "mở đầu vào" sàng lọc sau, Việt Nam từng có thời kỳ đào tạo 2 giai đoạn (thi vượt rào giai đoạn 1) và đã phải bỏ vì phát sinh tiêu cực tràn lan trong khâu luyện thi chuyển giai đoạn, chạy điểm, xin điểm. Ngoài ra, các trường tốp đầu như Trường Đại học Ngoại thương chỉ có chỉ tiêu 4.000 nhưng nhu cầu lên tới 20.000, cơ sở vật chất không thể chứa hết để mà sàng lọc dần.
Tóm lại, trước mắt, Việt Nam vẫn bắt buộc phải duy trì kỳ thi tuyển sinh đại học. Muốn hoàn thiện quy chế, chúng ta phải nhìn thẳng vào mặt trái và xuất phát từ chính thực tiễn xã hội Việt Nam chứ không thể áp dụng máy móc mô hình nước ngoài.
Trân trọng cảm ơn ông!
Báo Tiền Phong mở diễn đàn "Có nên tách kỳ thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học?"; để lắng nghe những ý kiến thảo luận, hiến kế, gợi mở giải pháp từ bạn đọc.
Bài viết tham gia diễn đàn xin gửi theo địa chỉ: https://tienphong.vn/ban-doc-lam-bao.tpo
Chúng tôi mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp đa chiều của bạn đọc!