Dự thảo Luật mới siết chặt bảo vệ môi trường biển

TPO - Dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo định hướng chuyển mạnh từ xử lý ô nhiễm sang chủ động phòng ngừa, kiểm soát nguồn gây ô nhiễm, quản trị rủi ro, gắn phát triển kinh tế biển với bảo vệ và phục hồi môi trường, hệ sinh thái biển.

Theo Tờ trình của Bộ Nông nghiệp và Môi trường về Dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), sau hơn 10 năm thực hiện, Luật hiện hành đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo.

Tuy nhiên, trước những yêu cầu mới của phát triển kinh tế biển và những vấn đề môi trường ngày càng phức tạp, khuôn khổ pháp luật hiện hành đã bộc lộ những khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.

Thực tế cho thấy, nhiều vấn đề môi trường biển đang ngày càng gia tăng như ô nhiễm từ đất liền ra biển, rác thải biển, sự cố môi trường, ô nhiễm dầu, nguy cơ sinh vật ngoại lai xâm nhập thông qua nước dằn tàu, suy thoái hệ sinh thái và các rủi ro môi trường tại vùng bờ.

Đây là những thách thức đòi hỏi phải có cơ chế quản lý đồng bộ hơn, không chỉ tập trung vào xử lý hậu quả mà phải tăng cường phòng ngừa từ sớm, từ xa.

o-nhiem-rac-thai-nhua.jpg
Tình trạng ô nhiễm từng xảy ra tại bãi biển Phan Rí Cửa, Lâm Đồng. Ảnh: Thái Lâm.

Một trong những điểm đáng chú ý của dự thảo Luật là định hướng hoàn thiện đồng bộ các quy định về kiểm soát nguồn ô nhiễm từ đất liền, quản lý rác thải biển, cải thiện và phục hồi môi trường biển.

Điều này phù hợp với thực tiễn. Theo Báo cáo “Đánh giá Ô nhiễm Nhựa - Đa dạng sinh học”, do nhóm nghiên cứu GreenU thực hiện tại Việt Nam, dòng chảy nhựa chủ yếu đi từ đất liền ra biển với khoảng 80% rác thải nhựa đại dương có nguồn gốc từ đất liền, được vận chuyển qua hệ thống sông ngòi, kênh rạch.

Dự thảo cũng đặt ra yêu cầu tăng cường kiểm soát sinh vật ngoại lai qua nước dằn tàu, hoàn thiện cơ chế bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu, bảo tồn đa dạng sinh học biển ngoài phạm vi quyền tài phán quốc gia và tăng cường bảo vệ môi trường vùng bờ.

Theo định hướng xây dựng Luật, bảo vệ môi trường biển sẽ không còn chỉ là nhiệm vụ xử lý ô nhiễm sau khi xảy ra sự cố. Trọng tâm được chuyển sang phòng ngừa, giám sát, cảnh báo và quản trị rủi ro. Các hoạt động có nguy cơ gây ô nhiễm từ đất liền, khu vực ven biển, hải đảo và trên biển sẽ được kiểm soát chặt chẽ hơn.

Dự thảo cũng nhấn mạnh yêu cầu khai thác và sử dụng tài nguyên biển trong giới hạn sinh thái và khả năng chịu tải của môi trường. Đây được xem là một nguyên tắc quan trọng nhằm bảo đảm các hoạt động phát triển kinh tế biển không vượt quá sức chịu đựng của hệ sinh thái, hướng tới mục tiêu không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần.

Cùng với kiểm soát ô nhiễm, việc bảo tồn và phục hồi hệ sinh thái biển cũng được đặt ở vị trí quan trọng. Dự án Luật hướng tới mở rộng và quản lý hiệu quả hệ thống khu bảo tồn biển, các khu vực có giá trị đa dạng sinh học cao và những vùng sinh thái đặc thù.

Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ

Để cụ thể hoá các định hướng, mục tiêu trên, dự thảo Luật dành riêng Chương V về bảo vệ môi trường biển và hải đảo với 5 mục, 20 điều.

Các quy định tập trung vào kiểm soát ô nhiễm môi trường biển từ hoạt động trên biển, từ đất liền và ô nhiễm xuyên biên giới; quản lý, thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải biển; phân vùng rủi ro; kiểm soát ô nhiễm tại các khu vực biển được bảo vệ, bảo tồn; ứng phó sự cố, cải thiện và phục hồi môi trường.

o-nhiem-rac-thai-nhua-2.jpg
Phần lớn ô nhiễm nhựa tại các vùng biển Việt Nam có nguồn gốc từ đất liền. Ảnh minh hoạ: Thái Lâm.

Một hướng tiếp cận mới khác là tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong bảo vệ môi trường biển.

Dự án Luật định hướng phát triển hệ thống quan trắc, giám sát, dự báo và cảnh báo sớm môi trường biển; xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về biển và hải đảo, bản đồ số đại dương và các hệ thống giám sát biển thông minh.

Những công cụ này được kỳ vọng sẽ nâng cao năng lực phát hiện sớm nguy cơ, theo dõi diễn biến môi trường và hỗ trợ hiệu quả cho công tác quản trị rủi ro.

Song song với đó, Dự thảo thúc đẩy chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế các-bon thấp và giảm thiểu rác thải nhựa đại dương.

Việc phát triển các mô hình sản xuất và tiêu dùng xanh, phát thải thấp được đặt trong định hướng chung nhằm góp phần thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 theo lộ trình phù hợp.

Dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo dự kiến được trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI vào tháng 10/2026.