Sửa lời Quốc ca: Hy hữu Lưu Hữu Phước

Sửa lời Quốc ca: Hy hữu Lưu Hữu Phước
TP - ...Câu chuyện với nhạc sĩ Văn Cao trưa ấy có ai đó điểm thoáng thời điểm tháng 7 năm 1976, Việt Nam chính thức thống nhất với việc đổi tên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa (CHXHCN) Việt Nam. Và sau đó Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam cũng long trọng tuyên bố Tiến quân ca là Quốc ca của CHXHCN Việt Nam.

> Sửa Quốc ca: Ngó người... ngẫm ta
> Quốc ca: 'Văn Cao có sửa thì sửa'

Ông bạn đồng nghiệp hỏi khẽ nhạc sĩ Văn Cao rằng thời điểm đó các báo lớn đăng Tiến quân ca là quốc ca nhưng không một báo nào đăng tên tác giả Tiến quân ca là Văn Cao cả?

Quên ( ?) tên tác giả nhưng người ta không quên chú lịch sử ra đời của Tiến quân ca và sự liên quan của ca khúc này với sự thành lập vùng tự do của Việt Minh với cao trào Cách mạng Tháng Tám! Một số báo cũng công phu chú thêm chi tiết những chỉnh sửa về lời và sự thông qua của Quốc hội năm 1955 v.v...

Nhưng suốt buổi, nghe vậy, tôi chỉ thấy nhạc sĩ cười lạt rồi thủng thẳng rằng, trước quên thì giờ nhớ... Rồi chất giọng khàn khàn của ông chợt bật ra từ đây người biết thương người trích từ Mùa xuân đầu tiên...

Nhân đương bàn về quốc ca không thể không đề cập một hiện tượng không phải là hy hữu nữa mà là độc nhất vô nhị chưa có tiền lệ nào trong lịch sử âm nhạc thế giới. Người đó có mặt trong Ban giám khảo cuộc thi sáng tác Quốc ca năm 1981 ấy... là nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, tác giả của hai quốc ca của hai chính thể!?

Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước
Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước.

Lưu Hữu Phước (1921- 1989) từng nổi danh với Bạch Đằng Giang, Hội nghị Diên Hồng, Lên đàng... nhưng độc đáo vẫn là Tiếng gọi thanh niên và sau này là Giải phóng miền Nam, Hồn tử sĩ...

Như mọi người đều biết, năm 1965, nhạc sĩ Lưu Hữu Phước trở lại chiến trường miền Nam. Và cũng năm đó ông viết ca khúc Giải phóng miền Nam. Ca từ cùng giai điệu hào hùng của bài hát này từng vang lên ở khắp hậu phương miền Bắc và các vùng nông thôn thành thị miền Nam trong những năm máu lửa.

Rồi sự kiện Chính phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập, thủ đô đóng ở Lộc Ninh (tỉnh Tây Ninh). Ca khúc Giải phóng miền Nam đã được sử dụng là Quốc ca chính thức của Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam.

Tiếng gọi Thanh niên ra đời trong không khí Cách mạng Tháng Tám 1945. Giai điệu, tiết tấu đến ca từ như có lửa thúc giục nhiệt huyết quốc dân nhất là tuổi trẻ. Này thanh niên ơi tiến lên dưới cờ giải phóng/ Đồng lòng cùng đi sá gì thân sống...

 “Đúng tâm nguyện của ông nhà tôi là Quốc ca không của riêng ông nên tôi xin hiến tặng Nhà nước, Quốc hội. Đây không đơn thuần là một ca khúc âm nhạc nên gia đình chúng tôi không thể trao tặng cho Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch mà chúng tôi muốn trao tặng cho Quốc hội. Vì Quốc hội đã là cơ quan chính thức chọn Tiến quân ca thành Quốc ca Việt Nam năm 1946”. 

Bà Nghiêm Thúy Băng,
phu nhân cố nhạc sĩ Văn Cao

Sau khi âm mưu của Pháp lập chính phủ Nam kỳ quốc thất bại, chính phủ này sử dụng lá cờ biến cải từ cờ quẻ Ly của chính phủ Trần Trọng Kim - cờ nền vàng với quẻ Ly có 3 sọc màu đỏ đứt quãng - thành lá “cờ Nam kỳ quốc” có nền vàng với 3 sọc màu xanh liên tục, tượng trưng cho 3 con sông ở Nam kỳ (Tiền Giang, Hậu Giang và Vàm Cỏ) và sau khi việc điều đình với chính phủ Hồ Chí Minh không thành, vào năm 1949, Pháp cho thành lập chính phủ Quốc gia Việt Nam, mời Bảo Đại về làm Quốc trưởng, Nguyễn Văn Xuân làm Thủ tướng, vội vàng lấy lá “cờ Nam kỳ quốc” - thay đổi màu của 3 sọc xanh thành 3 sọc màu đỏ trên nền cờ màu vàng – trở thành “quốc kỳ”.

Cũng vì hấp tấp thành lập nên họ vội vàng lấy ngay bài Tiếng gọi Thanh niên (đang bị thịnh hành thời đó) của Lưu Hữu Phước làm Quốc ca.

Thế mà cái sự vội vàng ấy lại được các tay tổ chính trị miền Nam chấp thuận và duy trì (?!) Bằng cớ là đến năm 1956, Ngô Đình Diệm do Mỹ đưa về Sài Gòn làm Thủ tướng, truất phế Bảo Đại để lên làm Tổng thống “Việt Nam Cộng hòa”với nền Đệ nhất Cộng hòa, rồi Nguyễn Văn Thiệu với nền Đệ nhị Cộng hòa – tiếp tục sử dụng quốc kỳ và quốc ca của “Quốc gia Việt Nam”.

Tất nhiên phần ca từ của Lưu Hữu Phước cũng được sửa sang còn phần nhạc thì vẫn để nguyên.

Ngay từ năm 1949, nhạc sĩ Lưu Hữu Phước đã có đơn thư kịch liệt phản đối và sau này trong thời gian tập kết ngày Bắc đêm Nam, từ thủ đô Hà Nội, tiếng nói của nhạc sĩ trên làn sóng điện Đài Tiếng nói Việt Nam liên tục những lời nặng tiếng nhẹ bác bỏ kể cả giễu cợt này khác nhưng Tiếng gọi thanh niên của ông vẫn cứ bị người bên kia chiến tuyến sử dụng vào một mục đích khác! Cho mãi sau năm 1975, giai điệu Tiếng gọi thanh niên mới được lác đác trở lại với ca từ nguyên gốc của nó!

Nói đến nhạc sĩ tài danh này không thể không nhắc đến Hồn tử sĩ. Nguyên thủy ca khúc nổi tiếng này lúc đầu mang tên Hát giang trường hận để tưởng nhớ nhắc nhở tấm gương tuẫn tiết của vị anh hùng dân tộc Hai Bà Trưng.

Tiết tấu ca từ bi hùng ấy, không biết đến thời điểm nào đã trở thành giai điệu tưởng niệm vang lên ở các buổi tang lễ các chiến sĩ trận vong? Khúc tưởng niệm nổi tiếng này đã trở thành Hồn tử sĩ. Nghe nói thời gian đầu, quân đội Việt Nam Cộng hòa trong các lễ tang tử sĩ cũng từng sử dụng giai điệu bi ai, trầm hùng này?

Nhưng lần năm 1981 ấy, ca khúc Vì Tổ quốc xã hội chủ nghĩa (nhạc của Lưu Hữu Phước, lời của Lưu Hữu Phước và Huỳnh Văn Tiểng) dự thi sáng tác Quốc ca đã lặng lẽ khuất âm suốt 32 năm nay! Hình như ở những tài danh, có những cái mốc mà trước đó từng tạo nên thì chính họ sau đó chẳng thể vượt qua?

Chợt nhớ năm 1944, khi quyết định chọn Quốc ca Liên Xô mới, Đại nguyên soái Xtalin đã quay sang nói với nhạc sĩ Shostakovich (một trong những nhà soạn nhạc vĩ đại nhất của Liên Xô ở thế kỷ XX): Âm nhạc của đồng chí nghe rất du dương, hay, nhưng biết làm thế nào, nhạc của Alexandrov nghe trang nghiêm, hào hùng, thích hợp với quốc ca hơn.

Thay lời kết

Nhân tại diễn đàn Quốc hội có người nhắc đến việc sửa lời Quốc ca, cũng kha khá những lời bàn cùng ý kiến này khác! Thôi thì việc trọng ấy cứ để Quốc hội bàn cho rốt ráo...

Tự dưng cuộc gặp nhạc sĩ Văn Cao mùa thu 1991 ấy thêm hằn trong tâm trí... Cũng chợt nhớ lần hầu chuyện trưa đó, khi chúng tôi gạn rằng, về nhạc và lời của Tiến quân ca nếu giờ cho biên tập lại, nhạc sĩ sẽ thêm bớt ở đoạn nào? Ông cười, lắc đầu: “Ngay trong cái đêm tình cờ lần đầu được nghe Tiến quân ca trong một ngõ vắng, tôi có nhận ra được vài chỗ nhịp điệu còn chưa hoàn chỉnh nhưng bài hát đã in ra rồi, bài hát đã phổ biến và không còn là của riêng tôi nữa...”.

Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước...

Đường vinh quang xây xác quân thù

Chợt nhớ thêm giai điệu Quốc ca Cộng hòa Pháp hiện vẫn đương dùng, bài La Marseillais, cái phần điệp khúc ấy...

Tiến lên! Tiến lên. Hãy để cho dòng máu nhơ bẩn (của kẻ thù) tưới đẫm những luống cày của chúng ta!

Và cũng nhớ luôn phát biểu của vị đại biểu Quốc hội nọ cách đây ít ngày tại một phiên họp của kỳ thứ 5 Quốc hội khóa XIII rằng, lời như thế nó sắt máu và không hợp với tình hình bây giờ...

Nhiều bạn đọc đã biết đến nghĩa cử mẫn tiệp của phu nhân cố nhạc sĩ Văn Cao, bà Nghiêm Thuý Băng, lần ấy đã chính thức có thư gửi Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Theo đó, bà Nghiêm Thuý Băng với tư cách người đại diện gia đình, đang hưởng quyền thừa kế đã trân trọng hiến tặng Đảng, Quốc hội, Nhà nước và công chúng tác phẩm Tiến quân ca được sử dụng làm Quốc ca nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ 1946 đến nay.

Trong thư ấy, bà quả phụ nhạc sĩ Văn Cao đã bộc bạch: “Đúng tâm nguyện của ông nhà tôi là Quốc ca không của riêng ông nên tôi xin hiến tặng Nhà nước, Quốc hội. Đây không đơn thuần là một ca khúc âm nhạc nên gia đình chúng tôi không thể trao tặng cho Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch mà chúng tôi muốn trao tặng cho Quốc hội. Vì Quốc hội đã là cơ quan chính thức chọn Tiến quân ca thành Quốc ca Việt Nam năm 1946”.

Vậy bây giờ, sửa hay không là tùy ở Quốc hội? Bởi Quốc hội đã chọn Tiến quân ca là Quốc ca từ năm 1946. Và gần 70 năm nay Đoàn quân Việt Nam đi từng choán trong hồn cốt các thế hệ người Việt...

Cùng chuyên mục

Bãi sậy sông Đầm là mái nhà yên bình của nhiều loài chim, trong đó có cả cò nhạn Ảnh: Đ.T

Về nơi đàn cò ở lại

TP - Có một nơi mà bao năm qua đàn cò hàng ngàn con chọn làm nhà, sáng chiều sải cánh tự do kiếm ăn, tối về ngủ bên rặng dừa mà chẳng mảy may lo bị bẫy bắt. Nơi ấy là bãi sậy sông Đầm (thuộc phường Bàn Thạch, thành phố Đà Nẵng).

Tượng đài Nguyễn Tất Thành – Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Trường Quốc học Huế Ảnh: QH Huế

130 năm trường Quốc học Huế: Ngôi trường của tuấn kiệt, anh thư

TP - Trong nhiều lần trò chuyện với thạc sĩ Sử học Nguyễn Đình Dũng, người từng dạy môn lịch sử ở Đại học Huế và cũng từng công tác tại Bảo tàng Hồ Chí Minh TP Huế, thường nghe anh nói rằng: “Trường Quốc học Huế là ngôi trường vĩ đại, là chiếc nôi đào tạo lớp lớp hiền tài đóng góp rất lớn cho lịch sử đất nước. Họ đích thực là những tuấn kiệt, anh thư. Trong đó có vai trò đặc biệt quan trọng của người học sinh Nguyễn Sinh Côn, sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại”.

Rắn độc và rừng hoang đã 'bỏ bùa' họ như thế đó

Rắn độc và rừng hoang đã 'bỏ bùa' họ như thế đó

TPO - Suốt nhiều năm, thỉnh thoảng tôi vẫn được những vị khách phương xa, trong đó có cả khách Âu - Mỹ, nhờ dẫn đến những khu nhà hàng đặc sản thịt rắn như Lệ Mật để “thử món lạ”. Có những nhà báo châu Âu quyết tâm trải nghiệm đến cùng, giá cả chẳng thành vấn đề, cứ như thể đã đặt chân đến Hà Nội mà chưa nếm thịt rắn thì chuyến đi vẫn còn thiếu một điều gì đó. Vậy mà, khi tận mắt thấy quả tim rắn vẫn còn đập trong chiếc cốc thủy tinh, bên cạnh là thứ tiết đỏ au được khuấy bằng một cọng sả trắng nõn, không ít người bỗng chốc đổi ý. Họ lịch sự xin phép được dừng lại ở mức “chiêm ngưỡng”, nhường phần “thưởng thức” cho những người can đảm hơn.

Ông Nguyễn Hồng Quang tỉ mỉ, chăm chút từng sản phẩm mới

Khắc khoải về làng gốm cổ Hương Canh

TP - Từng có gần 400 hộ làm nghề, gốm Hương Canh (xã Bình Nguyên, tỉnh Phú Thọ) nay chỉ còn 4 hộ bền bỉ giữ lửa cho nghề gốm cổ. Được tạo nên từ nguồn đất trầm tích đặc biệt của địa phương, dòng gốm sành không men nổi tiếng bởi độ bền chắc và sắc màu trầm mộc mạc đang đối mặt với những khó khăn về đầu ra và nguy cơ thiếu người kế nghiệp.

Anh Lưu Quang Hà bên sản phẩm bê tông nghệ thuật của Công ty

'Chúa chổm' xứ Tuyên đúc nên cơ nghiệp

TP - Lưu Quang Hà vừa rời giảng đường đại học, bước chân khởi nghiệp liền bị quỵt tiền, phải vay nặng lãi để sống. Ở nhà, bố mắc ung thư phổi, gia đình khánh kiệt, khiến anh Hà nhiều đêm bật khóc. Nhưng rồi, anh đứng dậy, gây dựng công ty chuyên làm sản phẩm bê tông nghệ thuật – ngành nghề mà anh được học, doanh thu tiền tỷ, tạo việc làm cho gần 20 lao động. Anh còn là Bí thư Chi đoàn ở tổ dân phố.

Công an cơ sở tuyên truyền, vận động người dân xóa bỏ hủ tục nghi kỵ “cầm đồ thuốc độc” Ảnh: NN

'Bóng ma đồ độc' ám ảnh vùng cao Quảng Ngãi

TP - Ở một số bản làng miền núi Quảng Ngãi, hủ tục nghi kỵ “cầm đồ thuốc độc” vẫn âm ỉ tồn tại, len vào những mâu thuẫn đời thường, những cơn bệnh chưa được lý giải bằng khoa học. Từ một lời phán của thầy cúng, hàng xóm có thể thành kẻ thù, người vô tội bị cô lập, đánh đập, thậm chí mất mạng.

Cán bộ Trạm Y tế xã Buôn Đôn đi bộ đến từng hộ dân tại buôn Đrăng Phốk để tiêm vắc xin cho trẻ

'Cõng' vắc xin tìm trẻ giữa đại ngàn

TP - Không để người dân vất vả đưa con đến trạm y tế, vào ngày 16 hằng tháng, cán bộ y tế xã vùng xa tỉnh Đắk Lắk vượt hơn 20km đường rừng đều đặn mang vắc xin vào tận buôn. Chuyến đi của họ đã mang thêm một lớp bảo vệ đến với những đứa trẻ nơi vùng lõi rừng, từng ngày rút ngắn giữa dịch vụ y tế và người dân.

Giếng cổ được người dân tự hào giới thiệu với khách đến thăm đảo

Bí ẩn giếng cổ ở xã đảo Đà Nẵng

TP - Giữa vùng biển đảo quanh năm nắng gió, nơi từng giọt nước ngọt quý hơn vàng, hai giếng cổ dưới chân núi Bàn Than ở Tam Hải vẫn trong veo, mát lành qua hàng trăm năm.

Cựu chiến binh Nguyễn Duy Kháng và cô giáo HươngẢnh: Lê Văn Chương

Những người lính ở lại núi Dàng-Bài cuối: Trái tim cô giáo trẻ dành trọn tiếng "tít te"

TP - Tháng 2/1970, bên dòng sông Vệ (Hành Thịnh, Quảng Ngãi), những chiếc HU-1A còn gọi là tàu rọ liên tục quần đảo, gầm rít trên bầu trời. Giữa khói lửa chiến tranh, trái tim một cô giáo trẻ lại bị cuốn vào âm thanh “tít te” không ngừng của một cậu lính thông tin quê Thái Bình. “Cái này bí mật, không thể giải thích” – chàng lính Nguyễn Duy Kháng mỉm cười nói với cô giáo Nguyễn Thị Thanh Hương về công việc của mình.

Cựu chiến binh Lại Vũ Yên và bà Nguyễn Thị Bè, mối tình và đám cưới trong chiến tranh, giờ đây đã hơn 50 năm Ảnh: Lê Văn Chương

Những người lính ở lại núi Dàng-Bài 2: Mối tình người lính quân y và nữ du kích

TP - Trước năm 1975, địch xem xã Hành Thịnh là một trong những cái gai rất khó nhổ. Bởi đây là một xã đồng bằng của Quảng Ngãi nhưng lại có rất nhiều ngọn núi: núi Dàng, núi Đuôi Chuột, núi Rố, núi Gò Đồn, núi và rừng Ông Đương, gò Rú. Địa thế hiểm trở vốn là lợi thế của quân giải phóng và là vùng đất chết đối với quân đội chính quyền Sài Gòn. Y sĩ Lại Vũ Yên đã trải qua những ngày gian nan tại đây, sau đó kết hôn với cô du kích…

 Ông Trương Minh Hải, Tổ trưởng Tổ cộng đồng bảo vệ nguồn lợi thủy sản phường Hồng Ngự chăm sóc đàn cá tự nhiên Ảnh: Hoà Hội

'Ngôi nhà' của đàn cá trên sông Tiền

TP - Xuất phát từ ý tưởng giữ cá lại với dòng sông, người dân vùng đầu nguồn Hồng Ngự (Đồng Tháp) đã biến đoạn bờ kè bình dị thành “bến đỗ an toàn” của đàn cá hàng nghìn con. Cá được cho ăn, bảo vệ và sinh trưởng tự nhiên. Mô hình độc đáo này không chỉ góp phần bảo vệ nguồn lợi thủy sản mà còn đánh thức tình yêu thiên nhiên trong cộng đồng.

Chiến dịch 500 ngày đêm đang được tổ chức tại nghĩa trang liệt sĩ Hành Thịnh, xã Đình Cương. Trong số các liệt sĩ nằm lại, có nhiều người là đồng đội của vợ chồng ông Tân Ảnh: Lê Văn Chương

Những người lính ở lại núi Dàng: Mối tình lính DKB và cô y tá

TP - Cách đây hơn nửa thế kỷ, khi đất nước hòa bình, hầu hết những người lính gác lại súng gươm để trở về với quê nhà, mang theo ký ức của một thời hoa lửa. Thế nhưng, tại xã Hành Thịnh (nay là xã Đình Cương) nằm dưới chân núi Dàng- vùng căn cứ cách mạng của Quảng Ngãi, vẫn có những người lính ở lại. Đầu tháng 9 này, họ đang lặng lẽ dõi theo từng nhát cuốc của Đội tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ đang thực hiện Chiến dịch 500 ngày đêm.