Giao cấp xã xử lý sự cố môi trường: Lo ngại khoảng trống nhân lực, chuyên môn

TPO - Theo ông Phạm Văn Sơn, Giám đốc Trung tâm Ứng phó sự cố môi trường Việt Nam, việc giao cấp xã ứng phó sự cố môi trường cần đòi hỏi nâng cao trình độ nhân lực và chuyên môn, bởi sự cố môi trường có thể tác động ngay lập tức đến đời sống, sức khoẻ người dân

Ông Sơn chia sẻ với phóng viên báo Tiền Phong một số vấn đề cấp thiết phải làm để địa phương không bị lúng túng khi xảy ra sự cố môi trường.


Cấp xã phải “nằm lòng” khu vực có nguy cơ xảy ra sự cố

Thưa ông, theo Nghị định 131 của Chính phủ năm 2025 phân định thẩm quyền của Chính quyền địa phương 2 cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Chủ tịch UBND xã có thẩm quyền chỉ đạo ứng phó sự cố môi trường. Điều này gây nhiều lo ngại khi thực tế đã chứng minh tại một số sự cố môi trường, ngay cả UBND cấp tỉnh/thành phố cũng có sự lúng túng, ông đánh giá như nào về quy định này?

Ông Phạm Văn Sơn: Khi mô hình chính quyền địa phương hai cấp đi vào vận hành, nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước đang phải điều chỉnh lại cách tổ chức thực hiện. Trong đó, phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường.

Trước đây, trong mô hình có cấp huyện, nhiều nhiệm vụ trung gian về tổng hợp, kiểm tra, hướng dẫn, tiếp nhận thông tin, phối hợp lực lượng thường được đặt ở cấp huyện. Khi chuyển sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp, cấp xã trở thành tuyến gần dân, gần cơ sở sản xuất, gần nguồn nguy cơ và gần hiện trường hơn bao giờ hết. Vì vậy, nếu không thiết kế lại vai trò của xã trong mô hình hai cấp, chúng ta rất dễ tạo ra khoảng trống khi có tình huống sự cố xảy ra.

ts-pham-van-son.jpg
Ông Phạm Văn Sơn, Tổng thư ký Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam (VACNE), Giám đốc Trung tâm Ứng phó sự cố môi trường Việt Nam.

Trong bối cảnh đó, tôi nghĩ rằng không chỉ là quy định mà cần định hình lại vai trò của cấp xã trong việc ứng phó sự cố một cách thực tiễn và hiệu quả.

Vai trò đầu tiên là phải nắm được nguồn nguy cơ trên địa bàn. “Nắm được” không phải theo nghĩa nắm được danh sách hành chính, mà là phải có được một bức tranh thực tế về các nguy cơ môi trường có thể phát sinh trên địa bàn mình.

Đó có thể là cây xăng, kho xăng dầu, kho hóa chất, cơ sở sản xuất nhỏ trong khu dân cư, gara sửa chữa, điểm lưu chứa dầu thải, khu vực chứa/tập kết chất thải, cơ sở tái chế, tuyến giao thông trọng yếu tiềm ẩn nguy cơ tai nạn với phương tiện vận chuyển hàng nguy hiểm, bến bãi ven sông, khu vực thường xuyên ngập úng, cống thoát nước ra ao hồ, khu dân cư nằm sát nguồn nguy cơ.

Điểm đáng lưu ý là không phải nguồn nguy cơ nào cũng đã nằm đầy đủ trong hồ sơ, giấy phép hoặc phương án chuyên ngành. Có những nguồn nguy cơ phát sinh trong thực tế, người dân biết, cán bộ cơ sở biết, nhưng chưa được thống kê, cập nhật hoặc quản lý đầy đủ.

Vì vậy, tôi cho rằng trong mô hình hai cấp, cấp xã phải có trách nhiệm rà soát, cập nhật đầy đủ danh sách nguồn nguy cơ trên địa bàn, bao gồm cả các nguồn nguy cơ đã được quản lý trong hồ sơ, giấy phép, phương án chuyên ngành và các nguồn nguy cơ phát sinh trong thực tế nhưng chưa được nhận diện, thống kê, cập nhật hoặc quản lý đầy đủ. Đây là điểm mang tính thực tế cần hết sức coi trọng.

Nguyên tắc 4 tại chỗ trong việc ứng phó sự cố môi trường theo quy định của Luật Bảo vệ Môi trường 2020 cũng cần được hiểu và thực hiện đúng.

Tôi cho rằng “4 tại chỗ” không có nghĩa là xã phải tự xử lý mọi sự cố. Càng không có nghĩa là đẩy trách nhiệm kỹ thuật phức tạp xuống cấp cơ sở trong khi xã không có đủ nhân lực, thiết bị, chuyên môn và kinh phí.

“4 tại chỗ” ở cấp này phải được hiểu là: phát hiện tại chỗ, thông tin tại chỗ, xử lý ban đầu tại chỗ, huy động ban đầu tại chỗ, nhưng phải kết nối rất nhanh với chỉ huy cấp tỉnh, cơ quan chuyên môn và lực lượng ứng phó chuyên nghiệp.

Cấp xã không thay thế lực lượng chuyên nghiệp. Nhưng xã phải làm đúng việc ngay khi có thông tin về sự cố. Đó là tiếp nhận tin báo, xác minh sơ bộ, cảnh báo khu vực nguy hiểm, yêu cầu cơ sở dừng nguồn phát tán nếu có thể, phối hợp cô lập ban đầu, bảo vệ hiện trường, ghi nhận hình ảnh, thời gian, hướng lan truyền, báo cáo đúng tuyến và đề xuất nhu cầu hỗ trợ.

chay-rang-dong-hoang-manh-thang-2506.jpg
Sự cố cháy nhà máy Rạng Đông năm 2019 ước tính phát tán khoảng 27kg thuỷ ngân ra môi trường xung quanh.

Về mặt pháp lý, các quy định hiện nay đã đủ để xác định vai trò của cấp xã chưa, thưa ông?

Ông Phạm Văn Sơn: Luật Bảo vệ môi trường 2020 và Nghị định 08/2022/NĐ-CP đã đặt nền tảng rất quan trọng.

Luật Bảo vệ môi trường quy định rõ về phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường; về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân gây ra sự cố; về nguyên tắc ứng phó; về thông báo, cung cấp thông tin cho cộng đồng; về khắc phục, phục hồi môi trường sau sự cố.

Nghị định 08/2022/NĐ-CP cũng quy định nội dung kế hoạch phòng ngừa ứng phó sự cố môi trường, trong đó có việc xác định, đánh giá nguy cơ; xây dựng kịch bản; chuẩn bị lực lượng, vật tư, thiết bị; tập huấn, huấn luyện, diễn tập; quy trình tiếp nhận, xử lý thông tin và huy động nguồn lực.

Đáng chú ý, pháp luật cũng yêu cầu chủ dự án, cơ sở phải công khai kế hoạch ứng phó sự cố môi trường và gửi kế hoạch đó tới UBND cấp xã. Điều này cho thấy cấp xã không thể đứng ngoài hệ thống thông tin rủi ro của các cơ sở trên địa bàn.

Tuy nhiên, Nghị định 08/2022/NĐ-CP chủ yếu quy định các nội dung phải có trong kế hoạch phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường.

Khi mô hình chính quyền địa phương chuyển sang hai cấp, điều cần thiết hơn là phải có khung kế hoạch đủ rõ để tổ chức lại cách vận hành trên thực tế: cấp xã nắm và cập nhật nguồn nguy cơ như thế nào, tiếp nhận và xác minh thông tin ra sao, xử lý ban đầu đến đâu, khi nào báo cáo và chuyển cấp, cấp tỉnh chỉ huy – huy động lực lượng bằng cơ chế nào.

Nói cách khác, khung kế hoạch phải giúp lấp khoảng trống trung gian khi không còn cấp huyện, để cấp xã không bị lúng túng trong giờ đầu và cấp tỉnh không bị thiếu thông tin khi cần chỉ huy, điều phối.

Khung kế hoạch vì vậy không chỉ là mẫu trình bày hồ sơ, mà phải là công cụ phân vai, phân tuyến và kích hoạt hành động khi có sự cố. Bên cạnh đó, cần có bộ tiêu chí đánh giá để cấp xã và cơ quan quản lý cấp tỉnh nhận biết việc thực hiện kế hoạch tại cấp cơ sở là thực chất hay chỉ mang tính hình thức, đối phó.

anh-su-co-moi-truong-1.jpg
Sự cố cháy nổ phân xưởng hóa chất trong một cụm công nghiệp. Nước cứu hỏa rửa trôi lượng lớn hóa chất vào hệ thống cống thoát nước mưa làm phát sinh hơn 4000 m3 hỗn hợp hóa chất có nguy cơ thoát ra sông trong bối cảnh sắp có mưa bão.

Cần sớm xây dựng khung kế hoạch phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường

Như vậy, có phải ông lo ngại cấp xã sẽ được giao thêm trách nhiệm nhưng không có đủ công cụ để thực hiện?

Ông Phạm Văn Sơn: Trong quản lý, chúng ta rất dễ viết rằng cấp xã “có trách nhiệm phối hợp”, “có trách nhiệm kiểm tra”, “có trách nhiệm giám sát”, “có trách nhiệm báo cáo”. Nhưng nếu không có dữ liệu, không có quy trình, không được tập huấn, không có công cụ tối thiểu và không có kênh chỉ huy rõ ràng, thì những trách nhiệm ấy rất dễ trở thành trách nhiệm trên giấy.

Cấp xã không thể chỉ được giao trách nhiệm mà không được trao năng lực.

Theo tôi, ít nhất phải có mấy việc rất cụ thể.

Một là, phải xây dựng bản đồ nguồn nguy cơ cấp xã. Bản đồ này cần kết hợp dữ liệu hồ sơ với khảo sát thực địa và phản ánh của cộng đồng.

Hai là, phải có quy trình “giờ đầu” cho xã. Quy trình này phải ngắn, dễ hiểu, dễ dùng: nhận tin – xác minh – cảnh báo – cô lập ban đầu – yêu cầu cơ sở xử lý tại chỗ – báo cáo cấp trên – kết nối lực lượng chuyên môn.

Ba là, phải có mẫu báo cáo nhanh thống nhất. Trong sự cố, cán bộ cơ sở không thể ngồi viết báo cáo dài. Chỉ cần một mẫu ngắn: thời gian, địa điểm, nguồn nghi ngờ, tác nhân, hướng lan truyền, đối tượng bị ảnh hưởng, biện pháp đã làm, nhu cầu hỗ trợ, hình ảnh hoặc video kèm tọa độ.

Bốn là, phải có cơ chế dữ liệu liên thông. Sở Nông nghiệp và Môi trường hoặc cơ quan chuyên môn cấp tỉnh có thể là đầu mối quản lý cơ sở dữ liệu nguy cơ, nhưng dữ liệu đó phải được cập nhật từ cơ sở. Xã phải có quyền bổ sung, phản ánh, cảnh báo và truy cập thông tin cần thiết để xử lý tình huống.

Năm là, phải có tập huấn thực chất. Không chỉ dừng ở phổ biến qui định, văn bản pháp luật, tập huấn phải chú trọng thực hành kĩ năng ứng cứu qua các tình huống thực tế.

Vậy theo ông, cấp xã nên đứng ở vị trí nào trong cơ chế phối hợp?

Ông Phạm Văn Sơn: Sự cố môi trường không đi theo ranh giới phòng ban. Nó đi theo dòng nước, hướng gió, địa hình, cống rãnh, kênh mương, thói quen sinh hoạt và sinh kế của người dân. Vì vậy, cơ chế chỉ huy phải thống nhất, nhưng các cánh tay chuyên môn phải đủ rộng.

Cấp xã là nơi phát hiện sớm và xử lý ban đầu. Nhưng khi sự cố vượt khả năng tại chỗ, phải kích hoạt ngay cơ chế cấp tỉnh. Khi đó, Sở Nông nghiệp và Môi trường giữ vai trò chuyên môn về môi trường; Công an và lực lượng phòng cháy chữa cháy, cứu nạn cứu hộ xử lý cháy nổ, cứu người, bảo vệ hiện trường; ngành công thương cung cấp thông tin về hóa chất, xăng dầu, điều kiện lưu chứa, quy trình công nghiệp; y tế đánh giá nguy cơ sức khỏe cộng đồng; xây dựng, giao thông, thoát nước nắm hạ tầng kỹ thuật, cống rãnh, trạm bơm, dòng chảy đô thị. Với tình huống lớn, phức tạp, cần đặt trong cơ chế chỉ huy thống nhất của cấp tỉnh.

Ngoài lực lượng nhà nước, cũng cần có cơ chế huy động đơn vị ứng phó sự cố chuyên nghiệp. Thực tế cho thấy không phải địa phương nào cũng nên mua sắm dàn trải nhiều thiết bị chuyên dụng rồi để đó. Thiết bị ứng phó sự cố cần được quản lý, bảo dưỡng, thay thế, vận hành thường xuyên. Có những thiết bị nếu không dùng đúng sẽ không hiệu quả, thậm chí nguy hiểm.

Vì vậy, Nhà nước cần phát huy nguồn lực của các đơn vị ứng phó chuyên nghiệp. Cấp xã cần biết khi nào phải gọi ai, còn lực lượng chuyên nghiệp phải được tích hợp vào kế hoạch cấp tỉnh một cách rõ ràng.

su-co-moi-truong4.jpg
Ảnh toàn cảnh sự cố cháy nổ phân xưởng hoá chất tại một cụm công nghiệp.

Cần tổ chức tập huấn, diễn tập thực tế ở cấp xã

Từ thực tiễn ứng cứu nhiều sự cố trong hơn 25 năm qua, ông kiến nghị Nhà nước cần chú trọng những điểm gì trong giai đoạn hiện nay?

Ông Phạm Văn Sơn: Tôi cho rằng có mấy việc rất cần làm. Trước hết, cần rà soát các quy định pháp luật, quy trình, kế hoạch đang còn thiết kế theo mô hình có cấp huyện để hướng dẫn lại cho phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Không nhất thiết việc gì cũng phải sửa luật ngay, nhưng phải có hướng dẫn vận hành rõ ràng, tránh khoảng trống trong tiếp nhận thông tin, chỉ huy, huy động lực lượng và phục hồi môi trường.

Thứ hai, cần có hướng dẫn về khung kế hoạch phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường cấp cơ sở và cấp xã; đồng thời ban hành bộ tiêu chí đánh giá việc triển khai kế hoạch trong thực tế, gắn với xây dựng dữ liệu nguy cơ sự cố môi trường cấp xã.

Thứ ba, phải tổ chức tập huấn và diễn tập theo tình huống thực tế. Cán bộ xã cần biết khi gặp các tình huống như xe bồn bị lật, kho hóa chất bốc cháy, dầu hoặc hóa chất lan truyền ra môi trường, giếng nước có mùi xăng dầu thì phải làm gì trước.

Thứ tư, phải có cơ chế tài chính và nguồn lực phù hợp. Không nên mua sắm dàn trải thiết bị chuyên dụng. Nhưng phải có trang bị vật tư tối thiểu để cảnh báo, cô lập ban đầu, bảo hộ cá nhân. Với thiết bị chuyên dụng, cấp tỉnh nên tổ chức theo vùng, liên vùng căn cứ vào nguy cơ đặc thù, hoặc thiết lập cơ chế hợp đồng với đơn vị ứng phó chuyên nghiệp.

Thứ năm, cần xây dựng cơ sở dữ liệu nguy cơ sự cố môi trường cấp tỉnh, có sự cập nhật thường xuyên từ cấp xã.

Thứ sáu, phải đưa truyền thông rủi ro và phục hồi môi trường sau sự cố thành nội dung bắt buộc. Sự cố môi trường không chỉ là xử lý hiện trường. Nó còn liên quan đến sức khỏe, sinh kế, niềm tin cộng đồng và trách nhiệm lâu dài đối với môi trường.

Xin cảm ơn ông!