Gặp anh trai sau 51 năm lưu lạc

TP - Chiến tranh đã lùi xa, nhưng vẫn còn đó những mảnh đời, câu chuyện đẫm nước mắt của năm tháng bão lửa. Trên tuyến Quốc lộ 25 đi qua tỉnh Gia Lai, phần lớn trẻ em thất lạc trong cuộc di tản năm 1975 được người Jrai nhận nuôi. Câu chuyện bà Hiao H’Yim (59 tuổi, trú buôn Du, xã Ia Rsai, tỉnh Gia Lai) tìm được anh trai sau 51 năm lạc nhau trong cuộc chạy loạn trên Đường số 7 càng khiến bao người xúc động.

Ðược người Jrai cưu mang

Sau khi Buôn Ma Thuột thất thủ, giữa tháng 3/1975, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu họp cùng tướng lĩnh, quyết định rút lui khỏi Tây Nguyên để đưa quân về cố thủ đồng bằng duyên hải Trung bộ. Bộ tư lệnh Quân đoàn II và Quân khu II của quân đội Việt Nam Cộng hòa chọn phương án rút lui theo Đường số 7 (Quốc lộ 25 ngày nay - PV). Đây là con đường xấu, từ lâu không được sử dụng, nhưng tạo được yếu tố bất ngờ.

Cuộc tháo chạy của địch trên Đường số 7 nhanh chóng trở nên hỗn loạn, cuốn theo biết bao gia đình. Những đứa nhỏ yếu ớt khóc thất thanh tìm cha mẹ. Đứa lạc ở bờ sông, đứa lạc ở bên đường, chờ mãi chả thấy cha mẹ quay lại. May mắn sao lúc đó dân ở các buôn làng người Jrai dọc Đường số 7 cưu mang, đưa về nuôi nấng.

Trong những đứa trẻ đó có cô bé Hiao H’Yim, ở buôn Du. Bà H’Yim giờ đây mang vẻ ngoài da trắng, thân hình nhỏ nhắn. Vẻ ngoài của người Kinh nhưng khi nghe bà nói được tiếng của người Jrai khiến ai cũng xúc động. Dưới căn nhà sàn đơn sơ, bà H’Yim cho biết: Cuộc chạy loạn năm 1975 cùng gia đình bà còn nhớ như in vì lúc đó bà đã cũng khá lớn khi vừa học xong lớp 2. Mới sáng sớm, bà theo dòng người từ Pleiku theo Đường 7 xuống Phú Yên.

anh-2.png
Anh em ông Sách - bà H'Yim chụp ảnh với ông Nguyễn Quang Tuệ (bìa trái)

Bà H’Yim nhớ tên cha là Hồ Quang Thanh, chị gái tên Thủy, anh trai tên Sách, bản thân bà tên Diễm, em tên Thiện và em út tên Nhật. Khi tới con suối lớn trên đường chạy loạn, mẹ và chị gái bị trúng đạn. Người cha chỉ kịp đắp tấm áo lên thi thể vợ và con gái rồi dẫn anh trai Sách đi đâu không rõ. “Lúc lạc mất cha, em Thiện hồi ấy mới biết đi, em Nhật vừa biết ngồi. Tôi bế em Nhật trên tay, còn Thiện lẽo đẽo đi theo. Gia đình tôi lạc mất nhau giữa dòng người hỗn loạn. May mắn ba chị em tôi được một gia đình người Jrai ở buôn Du đưa về cưu mang, nuôi dưỡng”, bà H’Yim rưng rưng.

Vậy là bà H’Yim cùng các em về sống ở ngôi làng nằm ở dưới cầu Lệ Bắc, trên con đường nối Pleiku với Tuy Hòa, cách nơi họ từng sinh sống khoảng 140km. Được một thời gian ngắn em Nhật mất, còn người chị đầy nghị lực và em Thiện được đặt lại tên theo người Jrai. Diễm trở thành Hiao H’Yim, còn Thiện thành Hiao H’Thiên. Sau khi lập gia đình và sinh con, H’Thiên qua đời khi tuổi còn trẻ. Cuộc sống cứ thế trôi qua, bà Diễm ngày nào đã xem buôn làng là một phần máu thịt, quê hương của mình. Sống giữa cộng đồng người Jrai tình cảm và chân chất, nhưng việc mong mỏi gặp lại người thân vẫn cứ âm ỉ trong bà.

Sử dụng mạng xã hội để tìm người thất lạc

Ông Nguyễn Quang Tuệ (trú phường Pleiku, tỉnh Gia Lai) là người cần mẫn, tìm hiểu rồi ghi chép tỉ mỉ những câu chuyện thất lạc trên Đường số 7, sau đó đăng lên trang “Thất lạc trên tỉnh lộ 7 năm 1975” phát trên kênh YouTube “Tuệ Pleiku - Đi và kể”. Mỗi chuyến đi ông Tuệ đều đăng cả lên mạng xã hội facebook. Với trường hợp của bà H’Yim, chỉ vài giờ sau khi chương trình phát sóng, một cuộc điện thoại từ Quảng Ngãi đã gọi đến với những thông tin ban đầu hoàn toàn trùng khớp nhau. Bà H’Yim được nhận ra khi có gương mặt rất giống ông Sách.

4.png
Hai anh em ông Sách - bà H'Yim.

Ông Tuệ và mọi người nhanh chóng đi xác minh, mong muốn bà H’Yim sớm đoàn tụ với người thân. Cuộc đoàn tụ diễn ra vào cuối tháng 5/2026 vừa qua ngay trong căn nhà dài của bà H’Yim ở buôn Du. Người đàn ông tóc đã bạc trắng bước xuống đầu tiên, nóng lòng đi nhanh vào nhà. Đó là ông Hồ Quang Sách (63 tuổi), anh trai ruột của Hồ Thị Diễm - nay đã trở thành bà Hiao H’Yim của buôn làng.

Ai cũng đã lớn tuổi nhưng trong lòng họ chuyện lạc nhau như mới vừa xảy ra. Ôm nhau vỡ oà nước mắt, bà H’Yim mới chắc chắn cha và anh trai không hề mất như bà từng nghĩ. “Lúc thất lạc Diễm, tôi khi ấy 13 tuổi. Sau tháng 3/1975 tôi và cha nhiều lần quay lại Đường 7, sang Buôn Ma Thuột (tỉnh Đắk Lắk), một số nơi của tỉnh Lâm Đồng (cũ)… Hễ nghe ở đâu có trẻ thất lạc trong độ tuổi của các em, hai cha con lại tìm đến. Nhưng tất cả đều không cho thông tin khả quan”, ông Sách chia sẻ.

Ông Sách và cha cũng từng gửi thư cho chương trình “Như chưa hề có cuộc chia ly” của Đài truyền hình Việt Nam nhờ giúp đỡ tìm con nhưng không có kết quả. Nỗi đau thất lạc người thân cho tới khi người cha ông Sách qua đời. Đây cũng là nỗi day dứt hàng đêm suốt 51 năm qua.

Ông Nguyễn Quang Tuệ cho biết, phần lớn trẻ em thất lạc trong cuộc di tản tháng 3/1975 được người Jrai nuôi đều có điểm tương đồng về tên gọi. Việc đặt tên thường cùng vần với tên anh chị em, người thân trong gia đình, hoặc đặt tên theo nơi tìm thấy đứa bé hoặc vật dụng kèm theo trẻ thất lạc (sông, suối, lùm cây...), cũng có trường hợp đặt tên có ý nhắc đến nguồn gốc đứa bé như Yuan (người Kinh), bỏ (chạy, di tản, bị bỏ lại), (con) nuôi. Riêng trường hợp bà Diễm giữ được và gần giữ được tên mình là do đã đi học, biết chữ.

Gia đình người Jrai đã cưu mang bà H’Yim suốt hơn nửa thế kỷ qua cũng không cầm được nước mắt. Bà Hiao Buôn (SN 1958), chị gái nuôi của bà H’Yim chia sẻ, bản thân rất vui vì H’Yim tìm lại được gia đình. Từ nay H’Yim và con cháu có thể đi thăm họ hàng ruột thịt. “Nó mãi là em của mình và mình cũng mãi là chị của nó. Giờ đây mọi người trong gia đình ngày thêm đông, mình vui lắm”, bà Buôn chia sẻ.

Chia sẻ với PV, ông Nguyễn Quang Tuệ (chủ kênh “Tuệ Pleiku - Đi và kể”) cho biết, trường hợp của bà H’Yim là một trong những câu chuyện đặc biệt trong cả chục câu chuyện thất lạc mà ông cùng cộng sự ghi nhận. Có rất nhiều đứa trẻ thất lạc trên Đường 7 được các gia đình Jrai cưu mang, nuôi dưỡng. Với ông Tuệ, mục đích của loạt video không đơn thuần là tìm kiếm thân nhân, mà muốn làm là cho mọi người biết những đứa trẻ thất lạc năm ấy đã và đang sống ra sao, trưởng thành như thế nào sau nửa thế kỷ. Bởi thực tế, trong hàng trăm trường hợp, số người tìm lại được gia đình chỉ là rất ít, phần lớn vẫn tiếp tục cuộc sống của họ ở nơi đã nuôi dưỡng mình khôn lớn.