Đêm xuống, nhà Tiền đường ở sân Thái Học, khu di tích quốc gia đặc biệt Văn Miếu - Quốc Tử Giám trở thành một màn hình lớn. Hình ảnh sĩ tử lều chõng, bia tiến sĩ, Khuê Văn Các và những lớp câu chuyện về đạo học lần lượt hiện lên bằng âm thanh, ánh sáng và công nghệ 3D mapping.
Du khách Phạm Văn Ngọc (Đống Đa, Hà Nội) chia sẻ sau trải nghiệm rằng show 3D mapping là “điểm nhấn mang lại trải nghiệm trọn vẹn, thăng hoa nhất”.
Văn Miếu vốn không xa lạ với người Hà Nội. Nhưng khi trời tối, Khuê Văn Các, giếng Thiên Quang, vườn bia Tiến sĩ hay khu Thái Học hiện ra trong một cách kể khác.
Tour đêm Tinh hoa đạo học đưa người xem qua các khu Nhập đạo, Thành đạt, Vườn bia Tiến sĩ, Đại thành, Thái Học. Xen giữa hành trình là những trải nghiệm tương tác, thư pháp số và trình chiếu giúp câu chuyện khoa cử, hiền tài, truyền thống hiếu học bớt xa cách với công chúng hôm nay.
Điều đáng chú ý không chỉ nằm ở màn trình diễn ánh sáng. Để một hoa văn trên bia đá có thể chuyển động trên mặt tiền công trình, để kiến trúc cổ đi vào không gian trình chiếu hay để du khách tương tác với câu chuyện đạo học, những giá trị vốn tồn tại dưới dạng hiện vật, kiến trúc, văn bản và tri thức lịch sử phải được chuyển sang một dạng khác: dữ liệu.
Một bản quét 3D có thể phục vụ nghiên cứu, phục dựng nhưng cũng có thể trở thành nguyên liệu cho phim, trò chơi hay triển lãm tương tác. Dữ liệu kiến trúc có thể được sử dụng nhiều lần. Một bản ghi âm nghệ thuật truyền thống có thể vừa phục vụ lưu trữ, vừa đi vào giáo dục, sản xuất nội dung hay những ứng dụng công nghệ mới. Di sản vì thế có thêm một đời sống ngoài không gian vật lý.
Những thử nghiệm như ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám cho thấy một phần giá trị mới có thể được tạo ra khi di sản đi vào môi trường số. Ở quy mô quốc gia, yêu cầu này đang được đặt ra quyết liệt hơn.
Tại cuộc làm việc với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch giữa tháng 8, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu coi dữ liệu lịch sử, văn hóa và di sản là một bộ phận cốt lõi của hạ tầng văn hóa quốc gia; thiết lập Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia thống nhất, liên thông, có thể kiểm chứng và sử dụng lâu dài.
Theo báo cáo tại cuộc làm việc, cả nước có hơn 40.000 di tích, gần 70.000 di sản văn hóa phi vật thể được kiểm kê; 177 bảo tàng lưu giữ và trưng bày hơn 4 triệu tài liệu, hiện vật. Đó là một khối tài nguyên rất lớn. Nhưng điểm mới nằm ở chỗ dữ liệu không được xem như sản phẩm phụ của công tác bảo tồn. Nó phải đi cùng khả năng khai thác, cùng trí tuệ nhân tạo và mục tiêu chuyển hóa giá trị văn hóa thành giá trị kinh tế.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh: “Đây là câu chuyện về chủ quyền tri thức, về quyền tự mình tổ chức và kể câu chuyện của dân tộc mình”. Nhìn ở quy mô ấy, số hóa không còn là việc mỗi bảo tàng lập một website, mỗi di tích làm một ứng dụng riêng. Dữ liệu chỉ thực sự có ý nghĩa khi được chuẩn hóa, tìm kiếm, kết nối, kiểm chứng và tiếp tục sử dụng cho những mục đích mới.
Ông Cao Lê Tuấn Anh - Chánh Văn phòng, Người phát ngôn Bộ VHTTDL - từng chỉ ra, chuyển đổi số di sản phải hướng tới cơ sở dữ liệu lớn và cơ sở dữ liệu dùng chung quốc gia. Chỉ khi dữ liệu được kết nối mới có thể hình thành bảo tàng số, thư viện số, đưa các giá trị văn hóa lên không gian mạng và mở rộng khả năng khai thác. Đi cùng hệ thống ấy phải là quy định về quyền tác giả, quyền liên quan.
Đó là sự thay đổi quan trọng về tư duy. Nếu trước đây người ta thường hỏi số hóa được bao nhiêu hiện vật, câu hỏi tiếp theo phải là: Dữ liệu ấy có dùng được không, ai được dùng và dùng để tạo ra giá trị gì.
Một pho tượng trong bảo tàng có đơn vị quản lý khá rõ. Nhưng bản quét 3D của pho tượng ấy thì sao? Một làn điệu dân gian thuộc về cộng đồng, nhưng bản ghi âm đã được xử lý, bộ dữ liệu âm thanh hay mô hình giọng hát dùng để huấn luyện AI sẽ được khai thác theo cơ chế nào? Một họa tiết cổ đi vào thời trang, trò chơi điện tử hoặc quảng cáo thì đến đâu phải xin phép, trả phí và chia sẻ lợi ích?
Những câu hỏi ấy sẽ xuất hiện ngày càng nhiều khi di sản đi từ không gian vật lý sang không gian số. Nhà nghiên cứu Vũ Hoàng Anh (Trường Đại học Ngoại thương) cho rằng điểm nghẽn không chỉ nằm ở tốc độ số hóa mà còn ở dữ liệu thiếu liên thông, thiếu chuẩn chung và thiếu sản phẩm số đủ mạnh.
Một cơ sở dữ liệu di sản dùng chung không nên là “kho đóng”, mà phải tạo điều kiện để những dữ liệu phù hợp đi vào nghiên cứu, giáo dục, AR/VR, game, phim và các sản phẩm trải nghiệm.
Khi cùng một dữ liệu có thể được sử dụng nhiều lần, giá trị của nó cũng thay đổi. Một bản quét 3D trước hết là bản sao phục vụ bảo tồn. Nhưng nếu bản quét ấy được đưa vào phim, trò chơi, triển lãm tương tác hay một sản phẩm thiết kế, nó đã đi vào một chuỗi giá trị khác. Lúc đó, câu chuyện không chỉ còn là quyền tiếp cận mà là quyền khai thác.
Phó Cục trưởng Cục Bản quyền tác giả Lê Minh Tuấn nhìn nhận kho tàng di sản Việt Nam là nguồn tài nguyên “quý hơn vàng”, nhưng chuyển tài nguyên thành sản phẩm đòi hỏi sáng tạo thực chất.
Sao chép nguyên trạng một hình tượng di sản có thể tạo ra sản phẩm, nhưng lặp lại quá nhiều sẽ làm giảm giá trị khác biệt. Với dữ liệu văn hóa cũng vậy: số hóa để có một bản sao tốt hơn mới là bảo tồn; dữ liệu chỉ bắt đầu mang dáng dấp tài sản khi quyền được xác lập và có thể đi vào những vòng khai thác mới.
“Yếu tố sáng tạo trong công nghiệp văn hóa luôn đòi hỏi rất cao và cần duy trì liên tục". Ông Lê Minh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Bản quyền tác giả.
TS. Nguyễn Thị Thanh Thủy và ThS. Trần Thị Thúy Lan gọi thực trạng dữ liệu phân tán hiện nay là những “ốc đảo kỹ thuật số”: Mỗi nơi một định dạng, một cách lưu trữ, thiếu chuẩn siêu dữ liệu và thiếu khả năng liên thông. Nhưng nút thắt sâu hơn nằm ở quyền sở hữu và quyền khai thác.
Khi dữ liệu di sản được đưa vào sản phẩm thương mại, ranh giới giữa cộng đồng nắm giữ di sản, đơn vị quản lý, người thực hiện số hóa và bên kinh doanh rất dễ trở nên mờ nhạt.
Điều này không chỉ là chuyện pháp lý. Nó quyết định dòng tiền. Nếu một mẫu hoa văn được dùng cho thời trang, hình ảnh cổ vật đi vào quảng cáo hay dữ liệu di tích trở thành bối cảnh trò chơi, ai nhận phần lợi ích phát sinh? Nếu ngân sách công được dùng để số hóa nhưng toàn bộ giá trị thương mại sau đó nằm ở một chủ thể khác, cơ chế tái đầu tư cho bảo tồn sẽ vận hành thế nào?
Ngày 6/8, Cục Bản quyền tác giả công bố một đề xuất đáng chú ý trong Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa: Khuyến khích hình thành hệ thống sàn giao dịch công nghiệp văn hóa, trong đó có sàn giao dịch quyền sở hữu trí tuệ và quyền khai thác tài sản trí tuệ. Dự thảo đặt ra các hoạt động niêm yết, môi giới, chuyển giao, cấp phép khai thác, đấu giá, mua bán; đồng thời yêu cầu xác thực thông tin, truy xuất nguồn gốc giao dịch và kết nối, chia sẻ dữ liệu phục vụ quản lý nhà nước.
Nếu cơ chế này thành hình, bản quyền sẽ không chỉ xuất hiện sau khi xảy ra tranh chấp. Quyền được đưa lên thị trường như một loại tài sản: Có chủ thể, có phạm vi khai thác, có thể định giá, cấp phép và sinh lợi. Đó là mắt xích còn thiếu trong nhiều lĩnh vực sáng tạo của Việt Nam.
Khoảng trống quyền tài sản đã bộc lộ ở những ngành đi trước. Khoảng 80% vốn đầu tư cho startup game Việt Nam chảy về Singapore; hơn 60% studio hoạt hình chủ yếu nhận gia công cho dự án toàn cầu thay vì sở hữu tài sản trí tuệ riêng. Năng lực sản xuất có, thị trường có, nhưng giá trị gia tăng và quyền tài sản chưa ở lại tương xứng với người Việt Nam.
Một tác phẩm văn học có thể đi qua âm nhạc, sân khấu, điện ảnh, trò chơi và nhiều định dạng khác. Mỗi lần chuyển thể là một lần giá trị được bồi đắp và nối dài. Khi những tài sản ấy tiếp tục được số hóa, câu chuyện không chỉ còn là quyền chuyển thể hay quyền khai thác tác phẩm, mà mở rộng sang quyền sử dụng dữ liệu, quyền cấp phép và phần lợi ích phát sinh từ dữ liệu đó.
Đây cũng là điểm gặp nhau giữa dữ liệu văn hóa và công nghiệp văn hóa. Một tác phẩm, nhân vật, câu chuyện hay kho dữ liệu chỉ thật sự trở thành tài sản khi quyền được xác lập và có thể vận hành qua nhiều vòng khai thác: Văn học đi vào điện ảnh, âm nhạc, sân khấu, game; một chương trình truyền hình mở rộng thành concert, nền tảng người hâm mộ hay hàng hóa; một hình tượng di sản trở thành thiết kế, hoạt hình, trải nghiệm số.
Một ví dụ khác cho thấy giá trị của tài sản văn hóa ngày càng nằm ở khả năng khai thác nhiều lớp là mô hình DatVietVAC đang theo đuổi. Tại roadshow ngày 12/8, doanh nghiệp cho biết các IP nội dung không dừng lại ở chương trình truyền hình mà tiếp tục được mở rộng sang concert, nền tảng kết nối người hâm mộ, thời trang, du lịch văn hóa, game, anime và các sản phẩm số. AI cũng được đưa vào chuỗi sản xuất nội dung.
Đằng sau quá trình kéo dài vòng đời IP là một nguồn tài nguyên khác ngày càng quan trọng: dữ liệu về nội dung, hành vi và cộng đồng công chúng. Khi được tích lũy, phân tích và kết nối, những dữ liệu ấy giúp doanh nghiệp nhận biết thị hiếu, phát triển sản phẩm mới và khai thác một tài sản sáng tạo qua nhiều định dạng. Một sản phẩm văn hóa vì thế không chỉ tạo doanh thu ở lần phát hành đầu tiên mà có thể trở thành điểm khởi đầu của cả một chuỗi giá trị.
AI làm câu chuyện dữ liệu văn hóa trở nên cấp bách hơn bởi mọi mô hình trí tuệ nhân tạo đều học từ dữ liệu. Chẳng hạn, muốn nhận biết đúng mẫu thiết kế áo dài qua các thời kỳ, kiến trúc đình làng, một làn điệu chèo hay một nhân vật lịch sử Việt Nam, hệ thống phải được tiếp cận nguồn dữ liệu đủ lớn, đủ chính xác và có ngữ cảnh.
Nếu dữ liệu thiếu hoặc sai, kết quả do AI tạo ra vẫn có thể rất thuyết phục nhưng sai từ gốc rễ. Một kiến trúc bị pha trộn, trang phục sai niên đại, nghi lễ bị tách khỏi cộng đồng thực hành hoặc nhân vật lịch sử bị tạo hình theo khuôn mẫu ngoại lai có thể được lặp lại trên nền tảng số và dần trở thành hình ảnh quen thuộc.
Câu chuyện không chỉ nằm ở độ chính xác của dữ liệu. Một vấn đề khác đang nổi lên rất rõ: AI được phép học từ những dữ liệu nào và chủ thể quyền có được hưởng lợi khi dữ liệu của mình trở thành nguyên liệu cho AI hay không.
Nghị định 134/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 9/4, bổ sung một nhóm quy định về việc sử dụng văn bản và dữ liệu được bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan đối với hệ thống AI. Văn bản và dữ liệu được sử dụng cho nghiên cứu, thử nghiệm, huấn luyện AI phải được công bố, tiếp cận từ nguồn hợp pháp và không được vô hiệu hóa các biện pháp công nghệ bảo vệ quyền. Việc sử dụng theo ngoại lệ còn phải không nhằm mục đích thương mại, không gây thiệt hại bất hợp lý đến lợi ích của chủ thể quyền và đầu ra của AI không được thay thế thị trường khai thác bình thường của tác phẩm.
Đáng chú ý, nghị định cũng đặt ra quyền bảo lưu của tác giả, người biểu diễn và chủ sở hữu quyền; quy định trách nhiệm lưu giữ hồ sơ kỹ thuật, dữ liệu huấn luyện của bên sử dụng. Khi văn bản và dữ liệu được bảo hộ được dùng để huấn luyện AI rồi khai thác thương mại, tổ chức, cá nhân sử dụng phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền bản quyền theo quy định.
Những quy định ấy đưa một câu hỏi tưởng như công nghệ trở về đúng bản chất văn hóa và quyền lợi: dữ liệu không phải nguyên liệu vô chủ chỉ vì máy có thể đọc được nó. Với kho di sản, tác phẩm, hình ảnh, âm thanh và tri thức văn hóa Việt Nam, khả năng số hóa càng lớn thì yêu cầu xác định nguồn gốc, quyền khai thác và trách nhiệm của bên sử dụng càng phải rõ.
“Quyền kể chuyện” trong thời đại AI vì thế bắt đầu từ những việc rất cụ thể: dữ liệu nào được đưa vào hệ thống, ai kiểm chứng, ai có quyền cho phép sử dụng, AI học trong phạm vi nào và phần giá trị tạo ra sẽ được phân bổ ra sao.
TS. Lê Thị Cẩm Bình, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội cho rằng quản trị AI trong lĩnh vực văn hóa phải bắt đầu từ nguồn dữ liệu văn hóa chuẩn mực, vai trò kiểm soát của con người và một hệ thống thể chế đủ khả năng thích ứng.
Dữ liệu huấn luyện thiếu đa dạng và thiếu kiểm chứng có thể khiến AI tạo ra biểu đạt rập khuôn, sai lệch lịch sử hoặc làm mờ những sắc thái vốn chỉ có thể hiểu đầy đủ trong bối cảnh văn hóa cụ thể.
Dữ liệu sạch không chỉ để phòng sai. Một kho dữ liệu chuẩn hóa còn có thể hỗ trợ AI phục dựng trang phục, tra cứu cổ vật, thuyết minh di tích, nhận dạng hoa văn, xử lý âm thanh truyền thống hoặc phục vụ phim, game, thiết kế. Nhưng với lịch sử, di sản và nghệ thuật truyền thống, chuyên gia văn hóa vẫn phải giữ vai trò thẩm định và hiệu chỉnh.
Bài toán vì vậy không phải chọn giữa “dùng AI” và “không dùng AI”. Điều cần xác lập là đường biên trách nhiệm: AI hỗ trợ đến đâu, con người kiểm soát ở đâu; dữ liệu nào có thể dùng để huấn luyện; nguồn dữ liệu phải minh bạch ở mức nào; sản phẩm có sự hỗ trợ của AI được ghi nhận ra sao; và quan trọng nhất, quyền tác giả, quyền liên quan cũng như quyền của cộng đồng có bị hòa tan khi máy học từ những dữ liệu đó hay không.
Thận trọng với quyền không đồng nghĩa đóng dữ liệu lại. Kho dữ liệu chỉ phục vụ lưu trữ nội bộ sẽ làm giảm khả năng tái sáng tạo. Nhưng mở hoàn toàn mà không truy xuất nguồn gốc, xác định phạm vi sử dụng và chia sẻ lợi ích lại có thể biến tài nguyên văn hóa thành nguyên liệu miễn phí cho chủ thể có công nghệ, vốn và năng lực thương mại tốt hơn.
TS. Nguyễn Thị Thanh Thủy và Ths. Trần Thị Thúy Lan đề xuất xác lập rõ quyền sở hữu, quyền khai thác thương mại và trách nhiệm bảo tồn đối với tài sản số hóa của di sản. Khi dữ liệu đi vào sản phẩm phái sinh, một phần giá trị tạo ra cần có khả năng quay lại chủ thể sáng tạo, nghệ nhân, cộng đồng hoặc quỹ bảo tồn.
Yêu cầu truy xuất nguồn gốc trong đề xuất sàn giao dịch công nghiệp văn hóa ngày 6/8 vì vậy rất đáng chú ý. Một thị trường quyền chỉ vận hành khi biết tài sản thuộc về ai, phạm vi quyền đến đâu và lịch sử cấp phép thế nào. Với dữ liệu, nơi một bản sao có thể được nhân lên gần như vô hạn, cơ chế định danh và truy xuất càng trở nên quan trọng.
Việt Nam không chỉ cần thêm máy quét, phần mềm hay các dự án số hóa. Đi cùng hạ tầng kỹ thuật phải là một “hạ tầng mềm”: tiêu chuẩn dữ liệu chung, cơ chế định danh, quy tắc truy cập, quyền khai thác, định giá, cấp phép và chia sẻ lợi ích. Những yếu tố này quyết định dữ liệu có đi được từ kho lưu trữ tới đời sống và thị trường hay không.
Số hóa mới là bước đầu. Một bản quét 3D chỉ thật sự tạo thêm giá trị khi nó vừa giúp bảo tồn hiện vật, vừa có thể đi vào bài học lịch sử, điện ảnh, thiết kế hay những sản phẩm trải nghiệm mới mà vẫn giữ được nguồn gốc và quyền của các chủ thể liên quan.
Dữ liệu có một đặc tính khác nhiều nguồn lực vật chất. Nó không mất đi sau một lần sử dụng. Cùng một kho dữ liệu có thể tiếp tục sinh ra tri thức, sản phẩm và trải nghiệm mới. Vấn đề là phần giá trị ấy có quay trở lại nuôi dưỡng văn hóa hay không.
Muốn vậy, Việt Nam phải làm chủ không chỉ kho dữ liệu mà cả luật chơi quanh nó: quyền được mở, quyền được khai thác, quyền được hưởng lợi và quyền tự kể câu chuyện của mình.