Những biến động phức tạp về chính trị, kinh tế và an ninh trên thế giới, đặc biệt tại các khu vực sản xuất và trung chuyển năng lượng lớn, đã tác động trực tiếp đến nguồn cung dầu mỏ, khí đốt và than. Đứt gãy nguồn cung, giá năng lượng biến động mạnh và những rủi ro đối với các quốc gia phụ thuộc vào nhập khẩu năng lượng khiến an ninh năng lượng trở thành một thách thức lớn, trong đó có Việt Nam.
Trong bối cảnh đó, cùng với bảo đảm đủ năng lượng cho phát triển kinh tế - xã hội, một yêu cầu quan trọng khác được đặt ra là sử dụng hiệu quả hơn nguồn năng lượng hiện có, giảm tiêu hao trong sản xuất, vận chuyển, phân phối và tiêu dùng.
Ngày 19/3/2026, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính ký ban hành Chỉ thị 09 về tăng cường thực hiện tiết kiệm năng lượng, thúc đẩy chuyển dịch năng lượng và phát triển phương tiện giao thông điện. Văn bản yêu cầu các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp và toàn xã hội triển khai quyết liệt các giải pháp tiết kiệm năng lượng, đồng thời thúc đẩy chuyển đổi sang phương tiện giao thông điện, phát triển hạ tầng sạc và khuyến khích sử dụng nhiên liệu sinh học nhằm giảm phụ thuộc vào xăng dầu nhập khẩu.
Điểm đáng chú ý là tiết kiệm năng lượng được xác định không chỉ như một biện pháp giảm chi phí trước mắt, mà còn là giải pháp quan trọng để giảm rủi ro về nguồn cung, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia và phát triển bền vững.
Theo các mục tiêu được đặt ra, đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu giảm tiêu hao năng lượng tính trên đơn vị GDP ở mức 1-1,5% mỗi năm. Các cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm tiết kiệm tối thiểu 3% điện năng mỗi năm. Điện năng dùng cho truyền tải và phân phối trên toàn hệ thống giảm xuống 5,8%. Cùng với đó, 100% cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm phải thực hiện kiểm toán năng lượng định kỳ và áp dụng hệ thống quản lý năng lượng. Tối thiểu 50% phương tiện giao thông công cộng tại các thành phố được đặt mục tiêu chuyển sang sử dụng xe điện.
Những chỉ tiêu này cho thấy yêu cầu tiết kiệm năng lượng đang được đặt ra trên nhiều cấp độ: từ hoạt động của từng cơ sở sản xuất, cách vận hành hệ thống điện cho tới tổ chức giao thông đô thị và lựa chọn phương tiện của người dân.
Chỉ thị 09 cũng đặt ra một chuỗi nhiệm vụ liên kết từ bảo đảm nguồn cung trước mắt đến thay đổi cách quản lý và sử dụng năng lượng trong dài hạn.
Về điều hành thị trường, Bộ Công Thương được giao theo dõi sát diễn biến năng lượng thế giới, kịp thời báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ các giải pháp điều hành phù hợp. Bộ cũng phải hoàn thiện cơ chế, chính sách, tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật về sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả; mở rộng danh mục phương tiện, thiết bị phải dán nhãn năng lượng và áp dụng mức hiệu suất năng lượng tối thiểu. Việc kiểm tra được chú trọng đối với các cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm và những cơ sở khai thác, chế biến, vận chuyển xăng dầu, than.
Cùng với quản lý nhu cầu, nhiệm vụ bảo đảm nguồn cung tiếp tục được đặt ra rõ ràng. Các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh năng lượng phải khẩn trương tìm kiếm nguồn cung xăng dầu, điện và khí, bảo đảm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và đời sống người dân, kể cả trong bối cảnh nguồn cung bị gián đoạn.
Về nguồn cung, các giải pháp được triển khai gồm tăng cường nhập khẩu, đa dạng hóa thị trường cung ứng, tìm kiếm nguyên liệu thay thế cho các nhà máy lọc dầu, nâng công suất các cơ sở sản xuất trong nước và đưa những nguồn bổ sung như ethanol, condensate vào vận hành.
Tuy nhiên, những giải pháp ứng phó trước biến động chỉ là một phần của bài toán. Chỉ thị 09 còn hướng đến việc xây dựng nền tảng để giảm tiêu hao năng lượng trong dài hạn, từ đổi mới công nghệ, quản lý định mức sử dụng năng lượng đến phát triển thị trường dịch vụ năng lượng và huy động nguồn lực xã hội.
Bộ Công Thương được giao thúc đẩy phát triển các doanh nghiệp dịch vụ năng lượng (ESCO), nghiên cứu cơ chế thí điểm và thử nghiệm có kiểm soát những mô hình đầu tư, kinh doanh, công nghệ tiết kiệm năng lượng mới. Cách tiếp cận này hướng tới việc tạo thêm nguồn lực cho các dự án tiết kiệm năng lượng, thay vì chỉ trông chờ vào hoạt động điều hành của cơ quan quản lý.
Các bộ, ngành khác cũng được phân công nhiệm vụ cụ thể. Bộ Xây dựng hoàn thiện tiêu chuẩn, quy chuẩn công trình sử dụng năng lượng hiệu quả, thúc đẩy công trình xanh và khuyến khích tích hợp hạ tầng sạc tại các khu đô thị, bãi đỗ xe. Bộ Tài chính phối hợp xây dựng Quỹ thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, đồng thời nghiên cứu cơ chế ưu đãi tài chính cho các dự án tiết kiệm năng lượng. Bộ Khoa học và Công nghệ thúc đẩy nghiên cứu, phát triển và chuyển giao công nghệ tiết kiệm năng lượng, pin, trạm sạc và động cơ hiệu suất cao.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường được giao rà soát, phát triển vùng nguyên liệu phục vụ sản xuất nhiên liệu sinh học, thúc đẩy sử dụng phụ phẩm nông nghiệp làm nguyên liệu sản xuất ethanol, đồng thời nghiên cứu tiềm năng năng lượng sinh khối từ phụ phẩm nông nghiệp, chất thải chăn nuôi và lâm nghiệp.
Đối với xăng sinh học E10, Chỉ thị yêu cầu rà soát các điều kiện để sớm triển khai lộ trình chuyển đổi trong tháng 4/2026, hướng tới góp phần giảm 10% lượng tiêu thụ xăng khoáng. Với giao thông điện, nhiệm vụ không chỉ là khuyến khích người dân chuyển đổi phương tiện, mà còn bao gồm phát triển hạ tầng sạc, tiêu chuẩn an toàn và hiệu suất năng lượng cho thiết bị sạc, trạm sạc, hệ thống điện phục vụ trạm sạc.
Số liệu của Bộ Công Thương và các tổ chức nghiên cứu cho thấy, công nghiệp hiện chiếm hơn 50% tổng năng lượng tiêu thụ toàn quốc. Các doanh nghiệp trong lĩnh vực này có thể giảm tiêu thụ năng lượng khoảng 20-30% thông qua tối ưu hóa sản xuất, đổi mới công nghệ và quản lý hiệu quả năng lượng.
Cả nước hiện có hơn 3.000 cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm, tiêu thụ trên 80 tỷ kWh điện mỗi năm. Nếu các cơ sở này tiết kiệm tối thiểu 2% điện năng, lượng điện giảm được có thể đạt khoảng 1,6 tỷ kWh, tương đương hơn 3.200 tỷ đồng mỗi năm. Đây là con số cho thấy tiết kiệm năng lượng không chỉ liên quan đến trách nhiệm môi trường, mà còn gắn trực tiếp với chi phí sản xuất và hiệu quả kinh doanh.
Trong các ngành công nghiệp, khai khoáng, xi măng, thép và giấy là những lĩnh vực tiêu thụ nhiều năng lượng do đặc điểm máy móc, quy trình chế biến và yêu cầu vận hành.
Ngành khai khoáng cần sử dụng máy móc hạng nặng, hệ thống băng tải, máy khoan, thiết bị làm mát và các quy trình nghiền, sàng, tuyển, xử lý bùn quặng. Năng lượng thường chiếm 15-20% tổng chi phí vận hành. Theo số liệu từ Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV), mỗi năm tập đoàn sản xuất khoảng 40-45 triệu tấn than, với mức tiêu thụ trên 700 triệu kWh điện.
Với ngành xi măng, điện năng để sản xuất một tấn xi măng vào khoảng 90-100 kWh. Để sản xuất một tấn clinker, mức nhiệt năng được nêu là 750-800 kcal/kg clinker, tương đương 107-114 kg than tiêu chuẩn có nhiệt trị 7.000 kcal/kg. Cả nước có 92 dây chuyền sản xuất xi măng đã đầu tư, tổng công suất thiết kế 122,34 triệu tấn mỗi năm. Nếu sản xuất và vận hành ở 100% công suất, mức tiêu hao điện được ước tính khoảng 110-122 triệu kWh mỗi năm.
Trong ngành thép, Việt Nam có 65 dự án sản xuất gang thép công suất từ 100.000 tấn mỗi năm trở lên. Dù các nhà máy thép mới sử dụng chưa tới 50% công suất thiết kế, mức tiêu thụ điện hằng năm vẫn vào khoảng 3,5 tỷ kWh. Lượng điện cần để sản xuất một tấn phôi thép thành phẩm tại một số nước tiên tiến như Nhật Bản khoảng 350-400 kWh, trong khi các nhà máy thép Việt Nam cần khoảng 700 kWh. Sự chênh lệch này đặt ra yêu cầu xem xét hiệu quả sử dụng năng lượng trong quá trình sản xuất, từ thiết bị đến công nghệ và tổ chức vận hành.
Đối với ngành giấy, theo khảo sát, đánh giá của Tổng công ty Giấy Việt Nam, chi phí năng lượng chiếm khoảng 20-30% chi phí sản xuất giấy và bột giấy. Với hơn 500 doanh nghiệp sản xuất giấy và tốc độ tăng trưởng hằng năm được nêu ở mức 15-18%, nhu cầu năng lượng của ngành có thể tăng nhanh trong những năm tới.
Các con số trên cho thấy dư địa tiết kiệm không chỉ nằm ở việc tắt thiết bị khi không sử dụng. Với các ngành có quy trình sản xuất tiêu hao nhiều năng lượng, việc cải tiến dây chuyền, tận dụng nhiệt thải, nâng cấp thiết bị và tổ chức lại hệ thống quản lý có thể tạo ra khác biệt lớn đối với chi phí vận hành.
Theo các chuyên gia, về giải pháp tiết kiệm năng lượng, doanh nghiệp công nghiệp cần kết hợp bốn nhóm giải pháp: nâng cao ý thức tiết kiệm năng lượng của từng nhân viên; đổi mới công nghệ và sử dụng nguồn năng lượng mới thay thế; áp dụng tiêu chuẩn, hệ thống quản lý năng lượng; giám sát và cải tạo hệ thống theo hướng tiết kiệm.
Đại diện Công ty Cổ phần Gạch Granit Nam Định (Công ty VID) cho biết, doanh nghiệp đã áp dụng công nghệ biến tần cho các động cơ và những động cơ được đầu tư biến tần có thể giảm 10-20% tiêu hao điện năng. Việc chuyển sang sử dụng dây chuyền lò nung tiết kiệm nhiên liệu, sử dụng vòi đốt titanium cũng giúp doanh nghiệp tiết kiệm gần 30% năng lượng so với lò nung sử dụng công nghệ cũ.
Bên cạnh thay đổi thiết bị và quy trình, việc xây dựng hệ thống quản lý năng lượng giúp doanh nghiệp theo dõi và cải thiện hiệu quả sử dụng năng lượng một cách có hệ thống.
Từ năm 2013 đến nay, 100% nhà máy của Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam (Vinamilk) đã áp dụng hệ thống quản lý năng lượng theo tiêu chuẩn ISO 50001. Theo đó, cán bộ, công nhân viên trong nhà máy được đào tạo nhận thức về hệ thống quản lý năng lượng. Những người liên quan đến hệ thống phải tham dự khóa đào tạo về năng lượng ít nhất mỗi năm một lần để cập nhật kiến thức và thực hiện hệ thống hiệu quả.
Việc tiết kiệm năng lượng cũng đã được các doanh nghiệp trong lĩnh vực xi măng, dệt may, thủy sản và logistics thực hiện với nhiều giải pháp như tận dụng nhiệt thải để phát điện, lắp đặt điện mặt trời mái nhà và số hóa quản lý vận tải nhằm tối ưu tuyến đường, giảm tiêu hao nhiên liệu. Điểm chung của những mô hình này là tiết kiệm năng lượng không được thực hiện bằng một biện pháp đơn lẻ mà kết hợp ý thức người lao động, công nghệ, quản lý và giám sát vận hành, đồng thời lựa chọn giải pháp phù hợp với đặc điểm của từng doanh nghiệp.
Theo các doanh nghiệp và chuyên gia, việc thực hiện các mục tiêu tiết kiệm năng lượng còn đòi hỏi sự vào cuộc của chính quyền địa phương, ngành điện, doanh nghiệp và người dân. Tại Hà Nội, yêu cầu này đã được cụ thể hóa thông qua hội nghị triển khai Chỉ thị 09 và Chỉ thị 10/CT-TTg về tăng cường tiết kiệm điện và các giải pháp bảo đảm cung ứng điện năm 2026 trên địa bàn thành phố.
Tại hội nghị, Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Trương Việt Dũng nhấn mạnh, năm 2026 là năm đầu của giai đoạn phát triển mới với mục tiêu tăng trưởng cao, kéo theo nhu cầu điện năng gia tăng mạnh trong khi bối cảnh năng lượng còn nhiều biến động. Thành phố cũng yêu cầu chuyển từ tư duy “sử dụng điện” sang “quản trị năng lượng”, coi tiết kiệm điện là công cụ điều hành quan trọng nhằm giảm phụ tải đỉnh và nâng cao hiệu quả vận hành hệ thống.
Theo lãnh đạo thành phố, Hà Nội đặt mục tiêu tiết kiệm tối thiểu 3% tổng điện năng tiêu thụ trong năm 2026 và từ 10% trở lên trong các tháng cao điểm. Các chương trình quản lý nhu cầu điện, điều chỉnh và dịch chuyển phụ tải, phát triển điện mặt trời mái nhà và các nguồn điện tại chỗ được định hướng trở thành giải pháp trong điều hành năng lượng.
Đối với cơ quan hành chính, sự nghiệp, thành phố yêu cầu thực hiện nghiêm các quy định về sử dụng điện tiết kiệm, hiệu quả và đưa nội dung này vào tiêu chí đánh giá thi đua. Các cơ sở sản xuất, kinh doanh cần xây dựng kế hoạch sử dụng điện hợp lý, hạn chế sử dụng điện vào giờ cao điểm, ứng dụng công nghệ tiết kiệm năng lượng và dịch chuyển phụ tải khi cần thiết.
Từ trường hợp Hà Nội, có thể thấy mục tiêu tiết kiệm năng lượng chỉ có thể đi vào thực tế khi được cụ thể hóa thành kế hoạch, trách nhiệm và cách thức thực hiện tại từng đơn vị. Cơ quan quản lý cần xây dựng cơ chế và giám sát; ngành điện phải nâng cao hiệu quả vận hành; doanh nghiệp phải kiểm soát tiêu thụ năng lượng; còn người dân cần hình thành thói quen sử dụng điện hợp lý.
Cùng với các giải pháp được ban hành đồng bộ, Chỉ thị 09 cũng đặt tiết kiệm năng lượng trong mối liên hệ với nhiều nhiệm vụ khác: bảo đảm nguồn cung, phát triển nhiên liệu sinh học, thúc đẩy phương tiện giao thông điện, hoàn thiện hạ tầng sạc, ứng dụng công nghệ lưu trữ, phát triển năng lượng tái tạo và đổi mới công nghệ sản xuất.
Tuy nhiên, tiết kiệm năng lượng là bài toán dài hạn, đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa nhiều giải pháp. Không phải doanh nghiệp nào cũng có cùng đặc điểm sản xuất, thiết bị và nhu cầu sử dụng năng lượng. Vì vậy, các biện pháp cần được lựa chọn phù hợp, từ cải thiện ý thức người lao động, thay thế thiết bị, áp dụng hệ thống quản lý đến đầu tư công nghệ và tận dụng nhiệt thải.
Những mục tiêu định lượng được đặt ra trong Chỉ thị 09 đã tạo nền tảng vững chắc để các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp tổ chức thực hiện. Nhưng để mục tiêu chuyển thành kết quả, điều quan trọng là biến tiết kiệm năng lượng thành hoạt động thường xuyên trong quản trị, sản xuất và tiêu dùng, thay vì chỉ triển khai khi thị trường năng lượng xuất hiện biến động.
“Chỉ thị 09 là bước đi kịp thời, mang tính chiến lược nhằm củng cố an ninh năng lượng quốc gia. Khi doanh nghiệp và toàn xã hội sử dụng năng lượng hiệu quả, áp lực nhập khẩu sẽ giảm, từ đó góp phần ổn định cán cân thanh toán và hạn chế rủi ro về tỷ giá”, PGS.TS Nguyễn Thường Lạng, Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế, Đại học Kinh tế Quốc dân.
Với các doanh nghiệp công nghiệp, lợi ích của tiết kiệm năng lượng nằm ở khả năng giảm chi phí đầu vào, hạn chế lãng phí, cải thiện hiệu suất và nâng cao sức cạnh tranh. Với hệ thống điện, giảm tiêu thụ và dịch chuyển phụ tải hợp lý góp phần giảm áp lực vận hành, đặc biệt trong giờ cao điểm. Với nền kinh tế, sử dụng năng lượng hiệu quả có thể góp phần giảm rủi ro từ biến động nguồn cung và hỗ trợ mục tiêu phát triển bền vững.