Bài 1: Đánh thức năng lực tạo giá trị của văn hóa

Bài 1: Đánh thức năng lực tạo giá trị của văn hóa

TPO - Concert bùng nổ, nhiều đêm diễn kín chỗ. Phim Việt liên tục lập kỷ lục phòng vé. Chất liệu truyền thống trở lại mạnh mẽ trong âm nhạc, thời trang và các sản phẩm sáng tạo. Những chuyển động ấy cho thấy văn hóa đang mở rộng thị trường và hình thành những chuỗi giá trị mới. Tuy nhiên, từ các điểm sáng đến một nền công nghiệp văn hóa đủ sức cạnh tranh vẫn còn khoảng cách. Khi những quyết sách mới mở thêm nguồn lực, bài toán không còn là văn hóa có tiềm năng hay không, mà là làm thế nào biến tiềm năng ấy thành năng lực tạo giá trị bền vững.

bai-1-tit-xen-2918.png

Tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về Phát triển văn hóa Việt Nam ngày 13/7, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt ra yêu cầu phải chuyển mạnh từ nhận thức đúng sang hành động hiệu quả, từ nguồn tài nguyên văn hóa phong phú sang năng lực sáng tạo, sức mạnh mềm và động lực phát triển thực chất.

Sau nửa năm triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, 34/34 tỉnh, thành phố đã ban hành chương trình hành động. Tuy nhiên, khoảng cách giữa chủ trương và năng lực chuyển hóa nguồn lực văn hóa vẫn được nhìn nhận rất rõ.

bai-1709.png
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo tại Phiên họp thứ hai Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam. Ảnh: Thống Nhất -TTXVN.

Bốn “khoảng trống” được chỉ ra gồm sức hấp dẫn và khả năng lan tỏa của văn hóa Việt Nam trong môi trường số, khả năng chuyển hóa di sản thành dữ liệu, tri thức và tài sản trí tuệ, khoảng cách giữa vốn văn hóa phong phú với năng lực tạo ra sản phẩm có sức cạnh tranh, cuối cùng là những hạn chế của thể chế và hệ sinh thái công nghiệp văn hóa.

Từ yêu cầu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch - Lâm Thị Phương Thanh - nhấn mạnh cần chuyển đổi tư duy từ quản lý theo lĩnh vực sang phát triển theo chuỗi giá trị, lấy hiệu quả kinh tế - xã hội, giá trị gia tăng tạo ra và mức đóng góp vào tăng trưởng làm thước đo.

bai-1-mobi-copy-7955.png
Những tháng cuối năm, Bộ VHTTDL tập trung tạo đột phá thể chế và phát triển công nghiệp văn hóa. Ảnh: Như Ý.

Theo Bộ trưởng, văn hóa, thể thao và du lịch phải được phát huy như một động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội.

Riêng với công nghiệp văn hóa, Bộ trưởng cho rằng cần tập trung xây dựng thương hiệu quốc gia cho những lĩnh vực có tiềm năng như phim Việt, âm nhạc Việt, trò chơi điện tử Việt, sáng tạo số Việt Nam và du lịch văn hóa Việt Nam, từng bước hình thành các hệ sinh thái phát triển. Cùng với đó, Bộ VHTTDL tiếp tục hoàn thiện thể chế, lấp đầy các khoảng trống pháp lý để tạo nền tảng phát triển mới cho ngành.

Việt Nam có hơn 40.000 di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, gần 70.000 di sản văn hóa phi vật thể cùng kho tàng văn học, âm nhạc, mỹ thuật, làng nghề, ẩm thực và những thực hành văn hóa của 54 dân tộc tạo ra một “kho nguyên liệu” hiếm có.

Nhưng tài nguyên chỉ thực sự trở thành nguồn lực khi có khả năng sinh ra giá trị mới.

Một làn điệu dân gian được lưu giữ trong kho tư liệu là di sản. Khi làn điệu ấy được một nghệ sĩ trẻ làm mới để hàng chục nghìn khán giả hát theo, đi vào sản phẩm âm nhạc, sân khấu, du lịch hay thiết kế, nó đồng thời tạo thêm đời sống mới cho di sản.

Tinh thần ấy cũng thể hiện trong mục tiêu các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP vào năm 2030. Nghị quyết 80 đồng thời đặt yêu cầu bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho văn hóa.

Hai con số cho thấy văn hóa vừa cần được đầu tư tương xứng, vừa phải nâng cao năng lực tạo giá trị.

11.jpg
1781497723640-2215618075231888441-1032983909184495315-062c27a074dd386cbaffa6b20ace5d22.jpg
1781497727179-2215618075231888441-1032983909184495315-679bb6673b6da300e3bfbf81617de2d3.jpg
Tài nguyên chỉ thực sự trở thành nguồn lực khi có khả năng sinh ra giá trị mới. Ảnh: Duy Phạm.

Khoảng cách đến mục tiêu ấy vẫn còn đáng kể. Theo Bộ VHTTDL, trong giai đoạn 2018-2025, các ngành công nghiệp văn hóa mới đóng góp khoảng 4-5% GDP. Như vậy, để đạt mức tối thiểu 7% vào năm 2030, không chỉ cần mở rộng quy mô thị trường mà còn phải nâng mạnh khả năng tạo giá trị gia tăng của từng ngành.

Song đầu tư nhiều hơn không đồng nghĩa với hiệu quả cao hơn nếu cách sử dụng nguồn lực vẫn dàn trải. Bài toán không chỉ là có thêm nhà hát, bảo tàng hay trung tâm văn hóa, mà là những thiết chế ấy có chương trình gì, thu hút được bao nhiêu công chúng, tạo ra những sản phẩm nào và có khả năng hình thành một dòng chảy văn hóa thường xuyên hay không.

1781497713854-2215618075231888441-1032983909184495315-433b6cc64b0c255fdb427b244d9129e2.jpg

bai-1-tit-xen-5255.png

Biểu hiện dễ quan sát nhất về sự chuyển động của thị trường văn hóa Việt Nam nằm ở bức tranh đầy sôi động của các concert chỉ trong hơn một năm qua.

Những chương trình thuộc chuỗi Anh trai vượt ngàn chông gai, Chị đẹp đạp gió, Em xinh say hi, Y-Concert cùng hàng loạt concert cá nhân đã kéo một lượng lớn khán giả trẻ đến các không gian biểu diễn quy mô lớn. Có chương trình thu hút hàng chục nghìn người, thậm chí những đêm diễn với quy mô khán giả rất lớn.

atvncg1.jpg

Sức kéo từng được nhìn thấy khá rõ từ hai đêm Born Pink của BlackPink tại Mỹ Đình năm 2023. Hơn 67.000 vé được bán hết, mang về doanh thu hơn 331 tỷ đồng. Nhưng tiền vé mới chỉ là một phần. Theo Sở Du lịch Hà Nội, trong hai ngày diễn ra concert, Thủ đô đón hơn 170.000 lượt khách du lịch, trong đó hơn 30.000 lượt khách quốc tế; tổng thu từ du lịch đạt khoảng 630 tỷ đồng. Các khách sạn quanh khu vực Mỹ Đình cũng ghi nhận công suất phòng tăng khoảng 20% so với những dịp cuối tuần thông thường.

Không chỉ xuất hiện ở những concert của nghệ sĩ quốc tế, sự chuyển biến mới của sức mua diễn ra cả ở thị trường concert nội địa. Bốn đêm Anh trai say hi tại TPHCM và Hà Nội cuối năm 2024 thu hút 168.000 lượt khán giả, theo số liệu từ ban tổ chức. Anh trai vượt ngàn chông gai cũng liên tiếp đưa hàng chục nghìn người tới mỗi đêm diễn. Cục Du lịch Quốc gia ghi nhận lượng lớn khán giả từ nhiều tỉnh, thành di chuyển tới nơi tổ chức, kéo theo nhu cầu về lưu trú, ăn uống và vận chuyển.

638346670-1227377969610010-4470004574575160188-n.jpg
ck2.jpg
z7982207424647-84bb150b735892c9af81240006e3230a.jpg
Các concert lớn, nhỏ hơn một năm qua tạo bức tranh sôi động cho thị trường nghệ thuật biểu diễn.

Thị trường vì thế không chỉ nằm ở tấm vé vào sân. Một concert quy mô lớn đang tạo ra dòng chi tiêu quanh nó và kéo nhiều ngành dịch vụ cùng tham gia vào chuỗi giá trị của một sản phẩm văn hóa.

Điều quan trọng hơn con số người đến sân là một hành vi tiêu dùng mới đang hình thành. Công chúng sẵn sàng bỏ tiền mua vé, di chuyển giữa các địa phương, mua sản phẩm liên quan đến nghệ sĩ và dành nhiều giờ cho một trải nghiệm văn hóa trực tiếp.

img.jpg
Điều quan trọng hơn con số người đến concert là một hành vi tiêu dùng mới đang hình thành.

Concert không chỉ bán âm nhạc. Đằng sau sân khấu lớn là chuỗi hoạt động của sản xuất chương trình, âm thanh, ánh sáng, thiết kế sân khấu, thời trang, truyền thông, quảng cáo, lưu trú, vận tải, ăn uống và nhiều dịch vụ khác. Khi một sự kiện đủ sức kéo khán giả từ nơi khác tới, khoản tiền người xem trả cho tấm vé chỉ là một phần trong tổng mức chi tiêu được kích hoạt.

info-ki-1.jpg

Đáng chú ý hơn, những chương trình đang được công chúng trẻ đón nhận lại thường xuyên tìm về chất liệu văn hóa truyền thống.

Ca nương Kiều Anh đưa Cô đôi thượng ngàn lên sân khấu. Soobin Hoàng Sơn sử dụng đàn bầu, khai thác hát xẩm trong Mục hạ vô nhân. Những chất liệu Đông Hồ xuất hiện trong các sản phẩm âm nhạc như Bắc Bling, Mục hạ vô nhân. Tháng 3/2025, concert Anh trai vượt ngàn chông gai lập kỷ lục Guinness với số lượng người tham gia mặc trang phục truyền thống Việt Nam.

Văn học cũng được tái sử dụng bằng ngôn ngữ của một thế hệ khác. Để Mị nói cho mà nghe của Hoàng Thùy Linh gợi từ Vợ chồng A Phủ. Phương Mỹ Chi khai thác kho tàng thơ Hồ Xuân Hương, Vợ nhặt, Chuyện người con gái Nam Xương trong các sản phẩm âm nhạc, hay Sơn Tùng với Come My Way.

50540152212829334565262161428169876417784826n.jpg
phuong-my-chi-tai-v-concert-rang-ro-viet-nam-remini-enhanced.jpg
mv-cong-tu-van-tho-mono-bzvn.jpg
Lực lượng nghệ sĩ trẻ đã chứng minh rằng truyền thống không nhất thiết đứng đối lập với thị trường.

Lực lượng nghệ sĩ trẻ đã chứng minh rằng truyền thống không nhất thiết đứng đối lập với thị trường. Khi được chuyển hóa bằng ngôn ngữ sáng tạo phù hợp, chính vốn văn hóa cũ lại trở thành chất liệu khác biệt cho sản phẩm mới.

Bắc Bling cho thấy rõ hơn cách một nguồn vốn văn hóa được chuyển thành sản phẩm của thị trường đương đại.

Ê-kíp không bê nguyên một làn điệu truyền thống vào ca khúc, mà sử dụng không gian văn hóa Kinh Bắc, hình ảnh di tích, lễ hội, làng nghề, con người địa phương, kết hợp với âm nhạc và cách kể chuyện phù hợp thị hiếu số. Sau hơn một năm phát hành, MV đạt 300 triệu lượt xem trên YouTube, gần 10 triệu lượt nghe trên Spotify - những con số hiếm có của thị trường nhạc Việt.

Giá trị tạo ra không dừng ở lượt nghe, lượt xem. Sau hiệu ứng của MV, Bắc Ninh mở các tour miễn phí đến di tích, làng nghề, đền chùa; hàng nghìn du khách tìm đến, có thời điểm lượng người đăng ký cuối tuần khiến địa phương phải tăng gấp đôi số xe phục vụ. Một sản phẩm âm nhạc, theo cách đó, đã góp phần đưa tài nguyên văn hóa sang một chuỗi giá trị khác - quảng bá điểm đến, du lịch và trải nghiệm văn hóa.

5-copy.jpg
13cc.jpg
31.jpg
Khi được chuyển hóa bằng ngôn ngữ sáng tạo phù hợp, chính vốn văn hóa cũ lại trở thành chất liệu khác biệt cho sản phẩm mới.

Tuy nhiên, hiệu ứng thị trường không đồng nghĩa mọi giá trị truyền thống đều được chuyển tải trọn vẹn. Một số nghệ sĩ Quan họ từng cho rằng Bắc Bling có tác dụng quảng bá du lịch nhưng không nên xem là sự lan tỏa nguyên dạng nghệ thuật Quan họ. Chính tranh luận này cũng cho thấy bài toán khó của công nghiệp văn hóa: Làm mới di sản để đến với công chúng rộng hơn, nhưng phải hiểu đúng và tôn trọng giá trị gốc.

Ở địa hạt điện ảnh, Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh, chuyển thể từ tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh, từng tạo dấu mốc doanh thu khi ra mắt năm 2015. Mắt biếc, cũng chuyển thể từ văn học Nguyễn Nhật Ánh, đạt doanh thu khoảng 180 tỷ đồng vào năm 2019.

Đến năm 2025, Mưa đỏ trở thành bộ phim có doanh thu cao nhất lịch sử phòng vé Việt Nam. Trường hợp phim điện ảnh này đặc biệt ở chỗ, từ kịch bản phim nhà văn Chu Lai biến thành tiểu thuyết. Cơn sốt phim Mưa đỏ doanh thu hơn 700 tỷ đồng khiến tiểu thuyết sốt trở lại.

Thời trang cũng cho thấy khả năng lan tỏa vượt khỏi ranh giới của riêng một ngành. Các nghệ sĩ Việt ngày càng lựa chọn thiết kế trong nước trên sân khấu, trong khi những ngôi sao quốc tế như Lisa, Jennie của BlackPink từng xuất hiện trong trang phục của thương hiệu Việt.

Theo nhà thiết kế Đức Hùng, thời trang Việt có lợi thế lớn về chất liệu dân gian, thủ công và mỹ cảm Á Đông. Khi những giá trị ấy được chuyển thành sản phẩm có thể sử dụng trong đời sống, “văn hóa không còn nằm trong bảo tàng mà trở thành một phần sống động của xã hội”.

Từ concert, có thể nhìn thấy một hệ sinh thái nhỏ đang vận hành. Âm nhạc cần thời trang, thiết kế, mỹ thuật, công nghệ; sân khấu khai thác di sản và văn học. Nghệ sĩ tạo ra sức hút cho thương hiệu, khán giả trả tiền cho tổng thể trải nghiệm.

Đó chính là logic của công nghiệp văn hóa. Giá trị không nằm riêng trong từng lĩnh vực mà được nhân lên khi các lĩnh vực kết nối với nhau. Nhưng cũng cần đặt một câu hỏi khó hơn, liệu sự bùng nổ này có thể duy trì sau vài mùa diễn, và những lĩnh vực khác của công nghiệp văn hóa có đang phát triển với cùng tốc độ?

727243770-860286863369334-3610689518054436006-npng.jpg
727498335-1949617102364523-5425420501354064252-npng.jpg
img-2260.jpg
Bài toán không chỉ là có thêm nhà hát, bảo tàng hay trung tâm văn hóa, mà là những thiết chế ấy có chương trình gì, thu hút được bao nhiêu công chúng.
bai-1-tit-xen-583.png

Một vài concert cháy vé hay một vài bộ phim doanh thu hàng trăm tỷ đồng rất đáng chú ý, nhưng chưa đủ để kết luận một nền công nghiệp văn hóa đã hình thành vững chắc.

Ngay phía sau những thành công của thị trường là hàng loạt điểm nghẽn lâu năm. Nhà thiết kế Đức Hùng cho rằng thời trang Việt không thiếu tài năng hay bản sắc, nhưng môi trường phát triển và khả năng bảo vệ sáng tạo còn hạn chế.

Thiết kế lấy cảm hứng từ dân gian, làng nghề, văn hóa truyền thống có thể nhanh chóng bị sao chép, làm nhái hoặc chiếm dụng ý tưởng. Nếu quyền sở hữu trí tuệ không được bảo vệ, người sáng tạo khó có động lực đầu tư dài hạn.

viet.jpg
Thời trang Việt không thiếu tài năng hay bản sắc, nhưng môi trường phát triển và khả năng bảo vệ sáng tạo còn hạn chế. Trong ảnh là một mẫu thiết kế đặc trưng phong cách của NTK Đức Hùng.

Mỹ thuật cũng gặp bài toán tương tự. Theo họa sĩ Vi Kiến Thành - Phó Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam - những tác phẩm Việt đạt mức giá triệu USD trên thị trường hiện chủ yếu thuộc thế hệ họa sĩ quá khứ. Giá trị giao dịch lớn tại các cuộc đấu giá quốc tế cũng không đồng nghĩa nguồn thu quay trở lại với lực lượng sáng tạo trong nước.

Ông cho rằng cần tập trung hơn cho những nghệ sĩ đang sáng tác, đồng thời xây dựng một thị trường minh bạch và xử lý dứt khoát vấn đề bản quyền. Một thị trường đầy tranh giả, tranh nhái sẽ làm nản lòng cả người sáng tác lẫn nhà sưu tập.

Điện ảnh, dù liên tiếp có những phim đạt doanh thu cao, vẫn bộc lộ khoảng trống về hạ tầng. Nhà văn Ngô Thảo, cố vấn nghệ thuật của BHD, nhận xét điện ảnh Việt sản xuất nhiều nhưng về cơ bản vẫn mang tính thủ công. Việc thiếu hệ thống phim trường chuyên nghiệp khiến các đoàn phim phải tốn thêm nguồn lực để tìm bối cảnh hoặc xử lý những yếu tố của đời sống hiện đại khi thực hiện phim lịch sử.

mua-do.jpg
dsc0514-1770686571791102624293.jpg
tiktoker-hai-trieu-tiktoker-david-vinh-hao-hung-khi-tham-gia-vai-dien-trong-bo-phim-dien-anh-mua-do-5816-4135jpg.jpg
xuan-hong-deo-ap-trong-nuoi-rau-khi-vao-vai-tu-ve-cua-dao-pho-va-piano-crop.jpg
Điện ảnh, dù liên tiếp có những phim đạt doanh thu cao, vẫn bộc lộ khoảng trống về hạ tầng.

Sự tăng trưởng của phòng vé chưa đồng nghĩa điện ảnh Việt đã có một hạ tầng sản xuất tương xứng. Đào, phở và piano là ví dụ điển hình cho việc đầu tư sản xuất nghiêm túc cho sản phẩm điện ảnh. Với kinh phí khoảng 20 tỷ đồng, đoàn phim phải dựng mới từ một bãi đất trống cả khu phố cổ Hà Nội dài 120 m, rộng khoảng 15 m, với hai dãy nhà hai bên. Khoảng 60 người tham gia thiết kế, mỹ thuật và thi công trong nhiều tháng. Để có một Hà Nội năm 1946, ê-kíp phải làm từ con đường, căn nhà rồi tạo dấu vết đổ nát, khói lửa chiến tranh.

Câu chuyện ấy cho thấy một điểm nghẽn của điện ảnh Việt: Khi hạ tầng dùng chung còn thiếu, mỗi dự án lịch sử lại phải dành một phần đáng kể tiền bạc, nhân lực và thời gian để dựng lại bối cảnh gần như từ đầu. Những khoản đầu tư lớn vì thế khó tích lũy thành năng lực sản xuất chung cho toàn ngành.

Một ngành công nghiệp đúng nghĩa cần nhiều hơn những “hit” đơn lẻ. Nó cần thị trường bản quyền, doanh nghiệp đủ sức đầu tư dài hạn, hệ thống phân phối, hạ tầng sản xuất, nguồn nhân lực chuyên nghiệp, cơ chế tài chính phù hợp và khả năng đưa tài sản trí tuệ từ một sản phẩm sang nhiều định dạng khác nhau.

z7982834552254-be02585d038a9e6a6b2befbab7f7aca1.jpg
z7982884456427-509d3460af06a0cd4f7ce0bb59a13af3.jpg
z7982912469199-2524caa6c1d50722cdb74a1483b2ef61.jpg
z7982952347600-a0434dbe2efdc5f25628cbb2094d0d46.jpg
Một nền công nghiệp văn hóa cũng không thể chỉ dựa vào khả năng bán vé của những nghệ sĩ đang nổi tiếng mà rất cần thói quen của công chúng được hình thành, nuôi dưỡng. Concert Thanh Xuân do Báo Tiền Phong tổ chức tháng 6/2026 góp phần nuôi dưỡng thói quen thưởng thức nghệ thuật của công chúng trẻ.

Việt Nam cũng khó có thể đi đường dài nếu mỗi thành công vẫn phụ thuộc chủ yếu vào nỗ lực của một vài nhà sản xuất, nghệ sĩ hoặc sự xuất hiện tình cờ của một trào lưu.

Nhạc sĩ Nguyễn Hữu Vượng nhấn mạnh muốn vươn ra quốc tế, nội tại phải vững chắc. “Có nhiều cách để đưa một sản phẩm ra thế giới, nhưng để duy trì sức ảnh hưởng và tạo được tiếng vang nhất định, Việt Nam vẫn chưa có nhiều sản phẩm đủ chất lượng. Việt Nam mới bắt đầu hình thành nền công nghiệp văn hóa, trong đó có công nghiệp âm nhạc. Trước đây, chúng ta gần như tự làm tất cả, và bây giờ đang đẩy mạnh phát triển công nghiệp âm nhạc, nên không thể đòi hỏi phải vươn lên ngay lập tức”, nhạc sĩ Nguyễn Hữu Vượng nói.

Nhà nghiên cứu văn hóa Nguyễn Khoa cho rằng nhiều dự án văn hóa thành công đều cho thấy vai trò của liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng sáng tạo. Nhà nước không nhất thiết trực tiếp làm sản phẩm, nhưng phải tạo được luật chơi, hạ tầng, cơ chế tài chính và môi trường bảo vệ sáng tạo; doanh nghiệp đảm nhiệm đầu tư, sản xuất và thương mại hóa; nghệ sĩ và cộng đồng là nơi tạo ra nội dung và sức sống cho sản phẩm.

Một nền công nghiệp văn hóa cũng không thể chỉ dựa vào khả năng bán vé của những nghệ sĩ đang nổi tiếng. Thói quen của công chúng rất cần được hình thành và nuôi dưỡng.

Nghị quyết 80 đặt mục tiêu 100% học sinh, học viên, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân được tiếp cận, tham gia thường xuyên, hiệu quả các hoạt động nghệ thuật và giáo dục di sản. Nếu đi vào thực chất, đây không chỉ là một chính sách giáo dục. Đó còn là đầu tư cho thị trường văn hóa trong nhiều năm tới. Hiệu quả đầu tư cho văn hóa không thể chỉ tính bằng doanh thu trước mắt.

785146768-122138223027096715-5955533977415634444-n.jpg
780075366-122138223099096715-1967931666846887288-n.jpg
Nhiều dự án văn hóa thành công đều cho thấy vai trò của liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng sáng tạo.

Sự bùng nổ của concert, những kỷ lục phòng vé hay sức hút ngày càng lớn của chất liệu truyền thống nên được nhìn như những chỉ dấu quan trọng, chứng minh rằng thị trường tồn tại, công chúng tồn tại và nguồn vốn văn hóa Việt Nam có khả năng tạo ra giá trị. Phần còn lại là xây dựng một hệ sinh thái đủ mạnh để những “cánh én” không xuất hiện đơn độc.

Nguồn lực đã được khơi thông nhiều thêm, công chúng đã sẵn sàng chi trả, thị trường cũng bắt đầu cho thấy sức bật. Nhưng để những chuyển động ấy không chỉ dừng ở vài điểm sáng, điều quan trọng là cơ chế có đủ thông thoáng để tiền, người làm nghề và ý tưởng sáng tạo gặp được nhau hay không.

1782659078653-1156853044344559755-g4114590836647437727-797d69f2c4ade1f47e15bad93896789d.jpg