Nhiều tác nhân hô hấp cùng lưu hành lúc giao mùa
Theo PGS.TS Nguyễn Thị Diệu Thúy - Trưởng Bộ môn Nhi, Đại học Y Hà Nội, Trưởng khoa Nhi, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, thời điểm chuyển từ mùa hè sang mùa thu là giai đoạn giao mùa, với sự chênh lệch nhiệt độ lớn trong ngày hoặc tình trạng nắng nóng chuyển đột ngột sang mưa. Đây cũng là thời điểm các vi sinh vật đường hô hấp có xu hướng phát triển và hoạt động mạnh trở lại.
Trong đường hô hấp vốn tồn tại nhiều loại vi sinh vật, trong đó có virus đường hô hấp, Haemophilus influenzae (HI) và vi khuẩn phế cầu. Khi bước vào thời điểm giao mùa, các tác nhân này có thể cùng lưu hành.
Bên cạnh yếu tố thời tiết, trẻ bắt đầu năm học mới cũng có nhiều thay đổi về môi trường sinh hoạt, lịch học và mức độ tiếp xúc. Theo bác sĩ Thúy, những yếu tố này kết hợp với nhau có thể khiến trẻ dễ mắc bệnh hơn trong các đợt giao mùa, đặc biệt vào khoảng tháng 8-9.
Tình trạng đồng nhiễm giữa các tác nhân hô hấp cũng được ghi nhận khá phổ biến. Bác sĩ Thúy cho biết hiện nay Adenovirus đang lưu hành rộng, trong khi RSV vẫn duy trì với mức độ tăng giảm khác nhau theo từng thời điểm. Cùng với đó, các vi khuẩn như phế cầu và HI cũng tồn tại liên tục.
Đáng chú ý, tình trạng đồng mắc giữa phế cầu và RSV được ghi nhận khá phổ biến trong thực tế lâm sàng. Với các kỹ thuật xét nghiệm hiện nay, bác sĩ có thể phát hiện cùng lúc hai, thậm chí ba tác nhân gây bệnh.
Cảnh giác với các type huyết thanh có độc lực cao
Theo bác sĩ Thúy, phế cầu vẫn là một trong những vi khuẩn quan trọng gây bệnh ở trẻ dưới 5 tuổi. Việc đưa các vắc xin phế cầu với phạm vi bao phủ ngày càng rộng đã giúp kiểm soát nhiều chủng vi khuẩn. Tuy nhiên, phế cầu có rất nhiều típ huyết thanh. Khi những chủng được vắc xin bao phủ giảm xuống, các chủng khác vẫn có thể tồn tại và gây bệnh. Đáng lo hơn, một số chủng có khả năng gây bệnh nặng và kháng thuốc.
“Đã tiêm vắc xin nhưng vẫn mắc bệnh” không có nghĩa vắc xin không hiệu quả. PGS.TS Nguyễn Thị Diệu Thúy, Trưởng khoa Nhi, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, cho biết vắc xin chỉ bảo vệ trước những chủng nằm trong phạm vi bao phủ. Trong khi đó, vi khuẩn có khả năng thay đổi và xuất hiện những chủng khác.
Biểu hiện lâm sàng của phế cầu mang tính chất nhiễm trùng điển hình: bắt đầu bằng sốt, ho, chảy mũi.Từ ngày thứ ba trở đi, bệnh có thể trở nên rõ rệt với khó thở tăng dần, ho nhiều đờm, mệt mỏi và tổn thương phổi. Nếu vi khuẩn xâm nhập vào máu hoặc hệ thần kinh trung ương, mức độ nguy hiểm tăng lên rất nhiều.
“Viêm màng não do phế cầu là một trong những biến chứng khiến bác sĩ đặc biệt lo ngại. Trẻ có thể sốt cao liên tục, cổ cứng, nôn vọt. Lúc này, vi khuẩn phế cầu đã đi vào đường máu hoặc đi từ những vị trí gần như tai, xoang để xâm lấn vào màng não, gây ra sốt cao và co giật.”, PGS.TS Nguyễn Thị Diệu Thúy nói.
Áp lực khi vi khuẩn kháng kháng sinh
Theo các nghiên cứu tại Việt Nam, phế cầu khuẩn có tỷ lệ kháng cao với nhiều nhóm kháng sinh thông thường , thậm chí đã xuất hiện các chủng đa kháng. Khi kháng sinh thông thường không còn hiệu quả, bác sĩ buộc phải sử dụng thuốc mạnh hơn, phổ rộng hơn. Tuy nhiên, việc lạm dụng kháng sinh lại tạo áp lực chọn lọc, khiến vi khuẩn ngày càng khó điều trị.
“Bệnh nhân vừa vào viện đã lập tức được kê toa phối hợp nhiều loại kháng sinh để điều trị phủ rộng; trẻ sốt dù chỉ do virus nhưng cha mẹ tự ý mua thuốc...Việc tiếp xúc liên tục với kháng sinh khiến vi khuẩn phế cầu biến đổi thành những chủng đa kháng cực kỳ hung hãn: dùng một loại kháng sinh không hiệu quả, đổi sang loại khác cũng không đáp ứng. Đây là vòng lặp lâm sàng mệt mỏi, đặt bác sĩ trước thách thức lớn trong điều trị,” PGS.TS Nguyễn Thị Diệu Thúy cho hay.
Với phế cầu khuẩn, hậu quả có thể nghiêm trọng hơn nếu xuất hiện bệnh xâm lấn. Một đứa trẻ trước đó khỏe mạnh có thể sau viêm màng não phải đối mặt với chậm phát triển trí tuệ, rối loạn vận động, suy giảm khả năng học tập hoặc suy giảm thính lực.
Đáng sợ là không phải tất cả di chứng đều xuất hiện ngay khi trẻ ra viện. Có trường hợp phải nhiều tháng, thậm chí vài năm sau, gia đình mới nhận thấy trẻ chậm nói, chậm phát triển hoặc có những khác biệt về nhận thức so với bạn bè cùng lứa. Đó là những tổn thương không thể đo đếm đơn giản bằng một toa thuốc hay số ngày nằm viện.
Phòng bệnh cần đi trước điều trị
Trong bối cảnh nhiều tác nhân hô hấp cùng lưu hành, đồng nhiễm ngày càng được nhận diện và kháng kháng sinh trở thành thách thức toàn cầu, các chuyên gia cho rằng phòng bệnh phải đi trước điều trị.
Tiêm chủng đúng lịch là một trong những chiến lược quan trọng nhất để giảm nguy cơ mắc các bệnh có thể phòng ngừa bằng vắc xin, trong đó có bệnh do phế cầu khuẩn và nhiều tác nhân nguy hiểm khác. Trẻ được tiêm phòng không chỉ tự bảo vệ mình. Khi tỷ lệ bao phủ trong cộng đồng tăng lên, nguồn lây cũng giảm, qua đó gián tiếp bảo vệ những trẻ chưa có điều kiện tiêm chủng.
Chuyên gia nhấn mạnh, cha mẹ không nên có tâm lý chờ đợi khi vắc xin phòng bệnh đã có và trẻ thuộc nhóm được khuyến cáo sử dụng. Quan trọng nhất là cần chủ động tham vấn chuyên gia y tế để lựa chọn biện pháp phòng ngừa đúng thời điểm và phù hợp với độ tuổi, thể trạng của trẻ . Bởi trong cuộc chiến với bệnh hô hấp ở trẻ, kháng sinh không phải “lá chắn” đầu tiên. Khi vi khuẩn đã kháng thuốc, ngay cả những loại thuốc kháng sinh phổ rộng cũng có thể trở nên bất lực. Phòng bệnh, vì thế, vẫn là cách ít tốn kém nhất và cũng là cách giúp trẻ tránh được cuộc chiến mà lẽ ra các em không cần phải trải qua.