Dằng dặc Trường Lũy

Dằng dặc Trường Lũy
TP - Dưới những nếp rêu phong, dấu tích tĩnh man Trường Lũy, dài ước chừng 130 km xuyên qua 8 huyện của Quảng Ngãi và 2 huyện của tỉnh Bình Định đang được đánh thức với những giá trị lịch sử, nghiên cứu và du lịch.

> Trường Lũy có làng cổ Thiên Xuân
> Đón nhận bằng công nhận Di tích quốc gia Trường Lũy
> Công trình kiến trúc dài 200 km

Nham nhở dấu xưa nét mới

Trời Ba Tơ hầm hập nắng. Xuôi QL24 theo hướng về đèo Đá Chát, gặp tấm bia đá “Trường Lũy Quảng Ngãi - 500m” dựng tại thôn Nam Lâm xã Ba Động, Ba Tơ. Anh Cao Văn Hòa, 38 tuổi, người dân trong thôn, sống ngay đầu con đường vào Trường Lũy hồ hởi dẫn đường: “Lũy ở đây kéo dài từ Ba Thành, Ba Liên qua một ngọn núi lên tới đỉnh Ba Trang và tiếp giáp huyện An Lão - Bình Định”. Ngày nào anh Hòa cũng thả trâu ngay dưới chân bờ lũy, nhiều đoạn bị tàn phá bởi chiến tranh. Ngay phía cánh đồng thôn, đoạn bờ lũy bị bạt tận chân để cấy lúa, xẻ đường.

Ông Lê Hải – trưởng thôn Nam Lâm cho biết, thôn có vài chục hộ sinh sống, canh tác ngay cạnh khu vực Trường Lũy. Người cấy lúa, người trồng cây lâm nghiệp, có nhiều đoạn để tự nhiên, hoang hóa. Cách Nam Lâm vài km, tại thôn Tân Long Hạ (Ba Động), đoạn Trường Lũy còn khá nguyên vẹn, chủ yếu được xếp bằng đá kiên cố, cao quá đầu người chừng 2m, bề rộng đến 2 – 3m, chạy dọc rừng keo của người dân trên địa bàn hướng ra phía sông.

Ba Tơ chỉ là một trong 8 huyện của Quảng Ngãi có Trường Lũy chạy qua. Qua khỏi đèo Đá Chát, đến địa phận xã Hành Tín Đông (huyện Nghĩa Hành, Quảng Ngãi). Tại bờ lũy thôn Kim Thành Thượng (xã Hành Tín Đông), các bậc cao niên trong làng cho hay, đoạn luỹ này chạy dọc theo chân núi Hồng Bà đến cả chục cây số, nhưng hiện “chỉ còn trong ký ức”.

“Người ta bạt bờ lũy để trồng khoai sắn, có đoạn thì xẻ kênh mương dẫn nước. Nếu không phải dân gốc trong làng khó nhận ra đó là Trường Lũy xưa” – ông Nguyễn Thân (53 tuổi, thôn Kim Thành Thượng) chỉ tay ra phía dấu vết bờ lũy, nói.

Xuôi về xã Hành Dũng (huyện Nghĩa Hành) đến thôn Xóm Đèo, đoạn trường thành nằm ngay khu vực đèo Chim Hút. Bà Đinh Thị Thê (85 tuổi), người H’rê già nhất trong làng cho hay: Trường Lũy chạy dọc từ đèo đến dốc Hành Nhân, còn nhiều đoạn nguyên vẹn trên núi, nhưng dưới đồng bằng thì bị phá dỡ nhiều rồi. Làng của bà Thê có 23 hộ toàn người H’rê, từng có tên xóm Đồng Mọi rồi đến Hố Bà Năm. “Ban đầu, làng chỉ có vài ba hộ nhưng sau đó quần cư đến vài chục hộ như bây chừ. Ở đây còn hai bảo (đồn) khá nguyên vẹn nằm dưới và trên đỉnh đèo Chim Hút”.

Chúng tôi băng qua ruộng sắn, con suối cách đường đèo vài trăm mét. Bảo Rùm Đồn nằm giữa rừng keo, xung quanh đầy bụi cây dại. Đây được xem là bảo còn lại nguyên vẹn nhất, với tường đá bao quanh được xếp theo hình móng ngựa hai tầng, cao trên 4m, tường phía tây cao hơn tường phía đông nhìn về hướng đồng bằng.

Ông Đinh Quyền – người dân xóm Đèo, bảo, từ nhỏ ông nghe cha kể lại, cứ dăm bảy cây số, người ta lại xây một cái bảo. Bảo vừa là trạm kiểm soát giữa hai miền xuôi - ngược, vừa là đầu mối giao thương giữa hai miền. Bà Thê còn nhớ, chợ phiên Tam Bảo từ xóm Đèo đi về trung tâm xã Hành Dũng chừng vài cây số từng là phiên chợ của cư dân xung quanh ba cái bảo trong vùng. Thường mỗi tuần họp
một lần.

Một góc Bảo Rùm Đồn, dưới chân đèo Chim Hút (Hành Dùng, Nghĩa Hành, Quảng Ngãi)
Một góc Bảo Rùm Đồn, dưới chân đèo Chim Hút (Hành Dùng, Nghĩa Hành, Quảng Ngãi).

Hiểu đúng Trường Lũy

Mô tả của Tiễu phủ sứ Nguyễn Tấn (1822 – 1871) trong Phủ man tạp lục: “Trường Lũy nam giáp ranh giới huyện Bồng Sơn, bắc giáp huyện Hà Đông. Dọc theo luỹ đào hào trồng tre, trước lũy là vùng Man, sau lũy có xây đồn (bảo) 115 cái, mỗi đồn có mười tên lính giữ, gồm có 1.150 người, lại lấy dân các huyện thượng bạn lập thành 27 lân theo sáu kiên cơ mà phòng ngự”.

Theo nhà nghiên cứu Lê Hồng Khánh (Quảng Ngãi), Trường Lũy là công trình quân sự - phòng thủ có thời gian xây dựng dài nhất Việt Nam, khởi đầu từ thời Bùi Tá Hán trấn nhậm Quảng Ngãi (thế kỷ XVI) cho đến cuối thế kỷ XIX, khi tổ chức Sơn phòng bị triệt bỏ.

Theo sử sách nhà Nguyễn, Trường Lũy cơ bản hình thành vào thế kỷ XIX: “…Kỷ Mão năm thứ mười tám (1919), Khâm sai Chưởng tả quân Bình Tây Tướng quân Quận công Lê Văn Duyệt tâu xin xây Trường Luỹ…” (Nguyễn Đức Cung, Lịch sử vùng cao qua Vũ Man tạp lục thư; Philadelphia, Pennsylvania- USA- 1908; phần dịch Phủ Man tạp lục).

Lê Văn Duyệt xây Trường Luỹ Bình Man dài 37.479 trượng (khoảng gần 120km) nhằm chống lại những cuộc đột nhập của người H’rê vì phản đối chính sách thuế khóa nặng nề, quan lại nhũng nhiễu dưới triều Gia Long.

Nhóm nghiên cứu của TS Andrew Hardy- viện Viễn Đông bác cổ Pháp (EFEO) tại Hà Nội và TS Nguyễn Tiến Đông- viện Khảo cổ học Việt Nam mô tả, khi khai quật di tích bảo (đồn) trên hệ thống Trường Lũy (Thiên Xuân, Rùm Đồn, đèo Chim Hút) có khá nhiều hiện vật gốm không men, hay đất nung… niên đại chủ yếu từ cuối thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII… cho thấy những đồn/bảo này có niên đại sớm hơn niên đại xây Lũy, vào khoảng cuối thế kỷ XVII.

Cũng theo báo cáo của EFEO, sau hơn 5 năm nghiên cứu Trường Lũy cho thấy lũy dài 132 km mà phần nằm trên đất Quảng Ngãi là 111km. TS Nguyễn Tiến Đông cho hay, Trường Lũy là công trình phòng vệ quân sự, với mục đích bảo vệ khu vực của người Việt, và chủ yếu do sỹ quan, binh lính của người Việt quản lý để ngăn chặn xung đột.

Tuy nhiên, các nghiên cứu cho rằng lũy không phải là công trình chỉ do người Việt xây dựng mà còn có sự phối hợp của người H’rê với việc sử dụng đáng kể kỹ thuật xếp đá của người H’rê. Nguồn gốc của việc tạo một ranh giới được sự đồng ý của cả hai bên.

Chuẩn bị đón khách Tây

Theo TS Nguyễn Đăng Vũ- Giám đốc Sở VH-TT&DL Quảng Ngãi, Trường Lũy không chỉ có giá trị riêng với Quảng Ngãi, Bình Định mà còn là công trình lịch sử của quốc gia, nhân loại, cần hướng tới việc đề nghị UNESCO công nhận Trường Lũy là di sản văn hóa thế giới.

Theo nhà nghiên cứu Lê Hồng Khánh, với chiều dài “đáng kinh ngạc”, chạy từ ranh giới tỉnh Quảng Nam đến phía bắc tỉnh Bình Định, Trường Lũy có giá trị quy mô hơn nhiều so với các thành lũy được xây dựng trong lịch sử Việt Nam, kể cả những thành lũy có ý nghĩa quan trọng về chiến lược như hệ thống Thành Lũy Tây Đô (do Hồ Quý Ly chỉ huy xây dựng vào thế kỷ XIV), Lũy Thầy (do Đào Duy Từ chỉ huy xây dựng vào thế kỷ XVII)... Bên cạnh đó, các ý nghĩa lịch sử, giá trị nghiên cứu về Trường Lũy là điều dễ nhận thấy.

Mới đây, tỉnh Quảng Ngãi tổ chức hội thảo về bảo tồn và phát huy di tích Trường Lũy gắn với du lịch. Theo TS Nguyễn Tiến Đông, với phong cảnh núi sông, con đường cổ bên cạnh một bờ luỹ dài dằng dặc, vượt qua sông núi, các cộng đồng dân cư Kinh, Thượng với những xóm làng tươi đẹp còn lưu giữ nhiều bản sắc văn hoá; những làng nghề dệt của người H’rê; ruộng mía, vườn cau của người Kinh; Trường Lũy có tiềm năng du lịch lớn, hấp dẫn du khách, đặc biệt là khách du lịch nước ngoài. Nếu tổ chức du lịch tốt, sẽ bảo vệ được luỹ, được di sản và cải thiện đáng kể bộ mặt của nông thôn, miền núi.

Tháng 3, Trường Lũy được Bộ VH-TT&DL công nhận di tích quốc gia. Theo nhà nghiên cứu Lê Hồng Khánh, nhìn tổng thể, Trường Lũy là một hệ thống, bao gồm: lũy (giữ vai trò trung tâm), các đồn/bảo, sơn đạo, các tụ điểm giao dịch/chợ phiên, các làng người Việt (Kinh), các plây/ tổng của người H’rê nằm dọc hai bên luỹ. Quy mô đáng kể của Trường Lũy còn thể hiện ở độ cao lớn của lũy (cao nhất đến 4m, đáy chân lũy rộng nhất đến 6m)...

Cùng chuyên mục

Bãi sậy sông Đầm là mái nhà yên bình của nhiều loài chim, trong đó có cả cò nhạn Ảnh: Đ.T

Về nơi đàn cò ở lại

TP - Có một nơi mà bao năm qua đàn cò hàng ngàn con chọn làm nhà, sáng chiều sải cánh tự do kiếm ăn, tối về ngủ bên rặng dừa mà chẳng mảy may lo bị bẫy bắt. Nơi ấy là bãi sậy sông Đầm (thuộc phường Bàn Thạch, thành phố Đà Nẵng).

Tượng đài Nguyễn Tất Thành – Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Trường Quốc học Huế Ảnh: QH Huế

130 năm trường Quốc học Huế: Ngôi trường của tuấn kiệt, anh thư

TP - Trong nhiều lần trò chuyện với thạc sĩ Sử học Nguyễn Đình Dũng, người từng dạy môn lịch sử ở Đại học Huế và cũng từng công tác tại Bảo tàng Hồ Chí Minh TP Huế, thường nghe anh nói rằng: “Trường Quốc học Huế là ngôi trường vĩ đại, là chiếc nôi đào tạo lớp lớp hiền tài đóng góp rất lớn cho lịch sử đất nước. Họ đích thực là những tuấn kiệt, anh thư. Trong đó có vai trò đặc biệt quan trọng của người học sinh Nguyễn Sinh Côn, sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại”.

Rắn độc và rừng hoang đã 'bỏ bùa' họ như thế đó

Rắn độc và rừng hoang đã 'bỏ bùa' họ như thế đó

TPO - Suốt nhiều năm, thỉnh thoảng tôi vẫn được những vị khách phương xa, trong đó có cả khách Âu - Mỹ, nhờ dẫn đến những khu nhà hàng đặc sản thịt rắn như Lệ Mật để “thử món lạ”. Có những nhà báo châu Âu quyết tâm trải nghiệm đến cùng, giá cả chẳng thành vấn đề, cứ như thể đã đặt chân đến Hà Nội mà chưa nếm thịt rắn thì chuyến đi vẫn còn thiếu một điều gì đó. Vậy mà, khi tận mắt thấy quả tim rắn vẫn còn đập trong chiếc cốc thủy tinh, bên cạnh là thứ tiết đỏ au được khuấy bằng một cọng sả trắng nõn, không ít người bỗng chốc đổi ý. Họ lịch sự xin phép được dừng lại ở mức “chiêm ngưỡng”, nhường phần “thưởng thức” cho những người can đảm hơn.

Ông Nguyễn Hồng Quang tỉ mỉ, chăm chút từng sản phẩm mới

Khắc khoải về làng gốm cổ Hương Canh

TP - Từng có gần 400 hộ làm nghề, gốm Hương Canh (xã Bình Nguyên, tỉnh Phú Thọ) nay chỉ còn 4 hộ bền bỉ giữ lửa cho nghề gốm cổ. Được tạo nên từ nguồn đất trầm tích đặc biệt của địa phương, dòng gốm sành không men nổi tiếng bởi độ bền chắc và sắc màu trầm mộc mạc đang đối mặt với những khó khăn về đầu ra và nguy cơ thiếu người kế nghiệp.

Anh Lưu Quang Hà bên sản phẩm bê tông nghệ thuật của Công ty

'Chúa chổm' xứ Tuyên đúc nên cơ nghiệp

TP - Lưu Quang Hà vừa rời giảng đường đại học, bước chân khởi nghiệp liền bị quỵt tiền, phải vay nặng lãi để sống. Ở nhà, bố mắc ung thư phổi, gia đình khánh kiệt, khiến anh Hà nhiều đêm bật khóc. Nhưng rồi, anh đứng dậy, gây dựng công ty chuyên làm sản phẩm bê tông nghệ thuật – ngành nghề mà anh được học, doanh thu tiền tỷ, tạo việc làm cho gần 20 lao động. Anh còn là Bí thư Chi đoàn ở tổ dân phố.

Công an cơ sở tuyên truyền, vận động người dân xóa bỏ hủ tục nghi kỵ “cầm đồ thuốc độc” Ảnh: NN

'Bóng ma đồ độc' ám ảnh vùng cao Quảng Ngãi

TP - Ở một số bản làng miền núi Quảng Ngãi, hủ tục nghi kỵ “cầm đồ thuốc độc” vẫn âm ỉ tồn tại, len vào những mâu thuẫn đời thường, những cơn bệnh chưa được lý giải bằng khoa học. Từ một lời phán của thầy cúng, hàng xóm có thể thành kẻ thù, người vô tội bị cô lập, đánh đập, thậm chí mất mạng.

Cán bộ Trạm Y tế xã Buôn Đôn đi bộ đến từng hộ dân tại buôn Đrăng Phốk để tiêm vắc xin cho trẻ

'Cõng' vắc xin tìm trẻ giữa đại ngàn

TP - Không để người dân vất vả đưa con đến trạm y tế, vào ngày 16 hằng tháng, cán bộ y tế xã vùng xa tỉnh Đắk Lắk vượt hơn 20km đường rừng đều đặn mang vắc xin vào tận buôn. Chuyến đi của họ đã mang thêm một lớp bảo vệ đến với những đứa trẻ nơi vùng lõi rừng, từng ngày rút ngắn giữa dịch vụ y tế và người dân.

Giếng cổ được người dân tự hào giới thiệu với khách đến thăm đảo

Bí ẩn giếng cổ ở xã đảo Đà Nẵng

TP - Giữa vùng biển đảo quanh năm nắng gió, nơi từng giọt nước ngọt quý hơn vàng, hai giếng cổ dưới chân núi Bàn Than ở Tam Hải vẫn trong veo, mát lành qua hàng trăm năm.

Cựu chiến binh Nguyễn Duy Kháng và cô giáo HươngẢnh: Lê Văn Chương

Những người lính ở lại núi Dàng-Bài cuối: Trái tim cô giáo trẻ dành trọn tiếng "tít te"

TP - Tháng 2/1970, bên dòng sông Vệ (Hành Thịnh, Quảng Ngãi), những chiếc HU-1A còn gọi là tàu rọ liên tục quần đảo, gầm rít trên bầu trời. Giữa khói lửa chiến tranh, trái tim một cô giáo trẻ lại bị cuốn vào âm thanh “tít te” không ngừng của một cậu lính thông tin quê Thái Bình. “Cái này bí mật, không thể giải thích” – chàng lính Nguyễn Duy Kháng mỉm cười nói với cô giáo Nguyễn Thị Thanh Hương về công việc của mình.

Cựu chiến binh Lại Vũ Yên và bà Nguyễn Thị Bè, mối tình và đám cưới trong chiến tranh, giờ đây đã hơn 50 năm Ảnh: Lê Văn Chương

Những người lính ở lại núi Dàng-Bài 2: Mối tình người lính quân y và nữ du kích

TP - Trước năm 1975, địch xem xã Hành Thịnh là một trong những cái gai rất khó nhổ. Bởi đây là một xã đồng bằng của Quảng Ngãi nhưng lại có rất nhiều ngọn núi: núi Dàng, núi Đuôi Chuột, núi Rố, núi Gò Đồn, núi và rừng Ông Đương, gò Rú. Địa thế hiểm trở vốn là lợi thế của quân giải phóng và là vùng đất chết đối với quân đội chính quyền Sài Gòn. Y sĩ Lại Vũ Yên đã trải qua những ngày gian nan tại đây, sau đó kết hôn với cô du kích…

 Ông Trương Minh Hải, Tổ trưởng Tổ cộng đồng bảo vệ nguồn lợi thủy sản phường Hồng Ngự chăm sóc đàn cá tự nhiên Ảnh: Hoà Hội

'Ngôi nhà' của đàn cá trên sông Tiền

TP - Xuất phát từ ý tưởng giữ cá lại với dòng sông, người dân vùng đầu nguồn Hồng Ngự (Đồng Tháp) đã biến đoạn bờ kè bình dị thành “bến đỗ an toàn” của đàn cá hàng nghìn con. Cá được cho ăn, bảo vệ và sinh trưởng tự nhiên. Mô hình độc đáo này không chỉ góp phần bảo vệ nguồn lợi thủy sản mà còn đánh thức tình yêu thiên nhiên trong cộng đồng.

Chiến dịch 500 ngày đêm đang được tổ chức tại nghĩa trang liệt sĩ Hành Thịnh, xã Đình Cương. Trong số các liệt sĩ nằm lại, có nhiều người là đồng đội của vợ chồng ông Tân Ảnh: Lê Văn Chương

Những người lính ở lại núi Dàng: Mối tình lính DKB và cô y tá

TP - Cách đây hơn nửa thế kỷ, khi đất nước hòa bình, hầu hết những người lính gác lại súng gươm để trở về với quê nhà, mang theo ký ức của một thời hoa lửa. Thế nhưng, tại xã Hành Thịnh (nay là xã Đình Cương) nằm dưới chân núi Dàng- vùng căn cứ cách mạng của Quảng Ngãi, vẫn có những người lính ở lại. Đầu tháng 9 này, họ đang lặng lẽ dõi theo từng nhát cuốc của Đội tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ đang thực hiện Chiến dịch 500 ngày đêm.