Theo dấu nhật ký Đặng Thùy Trâm: Né ánh mắt 'tàu rọ'

TP - Với đồng bào H’rê ở vùng Ba Trang trong chiến tranh, trực thăng mang theo cái chết. Người dân và quân giải phóng gọi chiếc trực thăng nhỏ bay sát ngọn cây là “tàu rọ”. Chỉ cần nó xuất hiện, cả cánh rừng lập tức biến thành một cuộc tàn sát. Đó cũng là nơi bác sĩ Đặng Thùy Trâm đã bám trụ và viết nhật ký.

Như bão quét qua rừng

Đầu năm 1967, đoàn công tác đặc biệt của Liên khu 5 lên đường từ Quảng Nam vào miền Nam dự Đại hội Chiến sĩ thi đua do Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tổ chức. Điểm đến là Củ Chi. Nếu đi theo quốc lộ, quãng đường dài hơn 1.000 km. Nhưng chiến tranh buộc họ phải men theo rừng núi, vòng tránh các cứ điểm quân sự, khiến hành trình kéo dài gần gấp đôi. Anh hùng LLVTND Ngô Thanh Trang (sinh năm 1943, quê Bình Sơn, Quảng Ngãi - nguyên Xã đội trưởng du kích xã Bình Đông nay là xã Vạn Tường) vẫn nhớ như in chuyến đi bộ suốt ba tháng ấy.

Có những đoạn, đoàn đi ngang vùng Ba Trang, là nơi bác sĩ Đặng Thùy Trâm đang công tác, rồi băng sang An Lão (Bình Định). Suốt dọc đường, trên đầu luôn vè vè tiếng động cơ của chiếc L-19 mà quân giải phóng gọi là “đầm già”, còn gọi là Moran. Chiếc máy bay trinh sát nhỏ bé ấy mang theo hệ thống quan sát hiện đại chuyên tìm khói bếp, dấu chân hoặc bóng người dưới tán rừng.

Trong nhật ký, bác sĩ Đặng Thùy Trâm từng ghi lại một lần thoát chết trong gang tấc: “Nơi mình ở lại vừa qua một trận bom - chiều hôm kia hai chiếc Moran hai thân quần mãi rồi phóng rocket xuống… Nghe rocket nổ mọi người vội lật đật xuống hầm, nghe bom rít trên đầu mình tưởng chúng thả ở quả đồi trước mặt, nhưng sau bốn loạt bom chúng đi mọi người mới hốt hoảng nhận ra rằng bom nổ cách mình chỉ không đầy hai mươi mét. cả một vùng cây trơ trọi, nylon che trên nhà rách tan nát và bay tơi tả từng mảnh. Từng cây cột bị mảnh bom tiện xơ xác. Đất đá rơi đầy hầm! May mắn là không ai bị thương”.

Thiếu cơm, sốt rét

Bà Võ Thị Thu Thủy, quê Phổ Vinh nay là phường Đức Phổ cho biết bà trở thành học viên lớp đào tạo y tá cấp tốc năm 1967-1968 do bác sĩ Đặng Thùy Trâm trực tiếp giảng dạy. Lớp học nằm sâu trong núi. Cơm không đủ no, thức ăn chủ yếu là rau rừng và củ mì. Sốt rét rình rập ngày đêm. Thế nhưng bài học đầu tiên mà học viên phải thuộc lòng lại không nằm trong giáo trình y khoa, mà là chạy hướng nào? Nhìn bom rơi lơ lửng, đoán được bom sẽ phóng xuống trước mặt hay sau lưng? Lớp học mới bắt đầu thì nhận lệnh báo động. Báo động thật chứ không phải tình huống diễn tập. Rồi chị em lao lên sườn núi, có người phóng xuống suối, quần áo rách tả tơi. Âm thanh từ 5 chiếc UH - 1A bay sát ngọn cây nghe giống như gió cấp 12 đang thổi vào những tấm tôn đang tả tơi, lơ lửng. Sau trận càn, bác sĩ Đặng Thùy Trâm gọi học trò trở lại nhưng có học viên đã hy sinh bên suối.

6-bai-3-xa-dang-thuy-tram-to-chuc-cho-dong-bao-xem-phim-dung-dot-anh-le-van-chuong.jpg
Xã Đặng Thùy Trâm tổ chức cho đồng bào xem phim “Đừng đốt”. Ảnh: Lê Văn Chương

Ngày 20/7/1968, chị Trâm đã viết về lớp học: “Và với những học sinh, mình đã đem lại những điều quý giá trong y học. Mình đến với lớp không phải chỉ vì tinh thần trách nhiệm mà bằng cả tình thương của một người chị đối với những đứa em đã chịu bao thiệt thòi, đau khổ… Thương biết mấy những Thuận, Liên, Luận, Xuân, Nghĩa… Liên vừa học vừa lo làm những việc trong trạm xá. Liên lặn lội từ sáng đến tối như một con chim nhanh nhẹn vui cười, đi đầu trong mọi gian khổ…”.

Trong thời gian học tập trong rừng, vừa chạy trốn máy bay, vừa sẵn sàng xuống hầm, các học viên còn phải tham gia tăng gia sản xuất. Những khe núi, hốc đá được canh tác củ mì, củ lang. Nếu nhổ gốc mì lên mang về luộc ăn thì phải trồng ngay một cây củ mì khác. Thỉnh thoảng trực thăng lại hạ xuống những điểm có ruộng nương của quân giải phóng. Bọn lính đốt, phá, chặt nhằm triệt nguồn lương thực của những người lính trong rừng.

Thiếu lương thực thì quân giải phóng lại tăng cường các đoàn đi bám cơ sở. Cứ 6 giờ tối thì từng nhóm người lặng lẽ theo bóng giao liên để quay về vùng địch tạm chiếm. Trước khi đi, nhiều người xác định có thể không trở về vì lọt vô ổ phục kích, vương bẫy mìn. Nếu trong trường hợp có cán bộ nào bị thương, bị địch bắt sống, toàn bộ hệ thống hầm hào, bệnh xá, mật khẩu ở trên núi phải thay đổi, di dời. Khi dời tới nơi ở mới thì phải tiếp tục đào hầm, khoét bếp Hoàng Cầm.

Những cậu bé trong rừng

Trong căn nhà sàn nhỏ, ông Phạm Văn Nho (SN 1959) cẩn thận cuốn mo cau thành chiếc mũ hình chóp để múc nước suối cầu Yàng phù hộ trước mỗi mùa lên rẫy. Ông kể, từ năm 1967, các đơn vị quân giải phóng hành quân qua làng mỗi ngày một nhiều. Rồi sau đó là trực thăng Mỹ xuất hiện nhiều hơn. Ngày nào cũng có. Lũ trẻ H’rê lớn lên cùng tiếng cánh quạt và tiếng ù…ù…ì…ì.

Quân giải phóng phần lớn nói tiếng miền Bắc. Nhiều người tò mò nhìn những đứa trẻ dân tộc H’rê mặc đồ được may từ vải dù Mỹ. Để có vải may quần áo, cha mẹ của cậu và nhiều người lớn khác thường dõi mắt theo chiếc CH - 47 Chinook và UH - 1A đổ quân trên đỉnh núi. Khi máy bay chở lính rút đi thì dân làng lập tức kéo tới. Mọi người tìm đồ hộp, chiếc đèn pin cổ gù được xem là chiến lợi phẩm, vải dù được mang về để may quần áo.

7-bai-3-em-pham-thi-thanh-truc-doan-vien-thanh-nien-dia-phuong-voi-cuon-nhat-ky-dang-thuy-tram-truoc-can-ham-noi-chi-tung-tru-an-tren-rung-anh-le-van-chuong.jpg
Em Phạm Thị Thanh Trúc với cuốn Nhật ký Đặng Thùy Trâm trước căn hầm nơi chị từng trú ẩn trên rừng. Ảnh: Lê Văn Chương

Cuộc sống vừa trốn chạy, vừa tìm kiếm thức ăn cứ tưởng sẽ mãi diễn ra. Nhưng rồi một tai họa ập đến. Năm lên mười tuổi, cậu bé Nho mất cả cha lẫn mẹ. Ký ức đau đớn nhất bắt đầu trong một căn hầm tránh máy bay. Cậu ngồi nép bên chân phải người cha Phạm Văn Nê. Bên ngoài, chiếc tàu rọ lượn vòng. Tiếng súng từ trên cao nổ từng phát ngắn.

“Pốc... pốc...”. Một viên đạn xuyên qua nắp hầm, sượt qua mặt cậu bé, cắm vào đùi trái ông Nê. Ông qua đời ngay sau đó vì mất máu. Không lâu sau, mẹ cậu cũng qua đời. Đứa trẻ mồ côi bắt đầu lang thang giữa rừng. Mỗi ngày ghé một nhà xin đúng một bữa cơm. Cứ đi giáp vòng gần 1 tuần lễ thì quay về nhà chị đầu (Phạm Thị Hia) ăn 2 bữa, rồi lại tiếp tục đi ăn ké.

“Một tai nạn bất ngờ (nhưng cũng rất bình thường trong chiến tranh) đã xảy đến với bệnh xá của mình: Một loạt bom đã rơi đúng ngay một phòng bệnh nhân giết chết một lúc năm người… bỗng chị Lãnh la lên: ‘Chết hết phòng ông Chánh rồi!’. Mình và mọi người chạy ra. Ôi cái cảnh điêu tàn làm sao! Khu rừng trơ trọi cây đổ ngổn ngang, những mảnh quần áo bay tơi tả dính trên các cành cây, mấy nếp nhà xiêu vẹo...” . Trích nhật ký Đặng Thùy Trâm

Giữa năm 1967, chiếc tàu rọ hạ xuống giữa xóm Đồng Lớn. Tất cả dân làng đều bỏ chạy. Riêng cụ Phạm Văn Mơ vẫn ngồi như bức tượng. Rồi cụ bị đưa lên trực thăng chở tới thị trấn Ba Tơ 2 ngày, sau đó đưa xuống Đức Phổ. Đến năm 1975, cụ mới trở về được làng. Sau vụ này, nhiều người H’rê truyền tai nhau kinh nghiệm, có trường hợp không nên chạy thục mạng, vì lính Mỹ trên trực thăng không phân biệt được đâu là dân thường và quân giải phóng.

Cựu phóng viên chiến trường Mỹ Ronald Heaberle sau gần 60 năm vẫn nhớ cảnh ngồi trên trực thăng, cổ đeo chiếc Nikon F và nhìn xuống vùng nguy hiểm. Còn bà Võ Thị Thu Thủy kể, bọn lính dưới Đức Phổ đều biết trên rừng có một bệnh xá, có bác sĩ tên là Đặng Thùy Trâm. Vì sau khi bà học xong, trở về địa phương thì bị bắt. Lúc tra tấn bà, bọn lính luôn hỏi: “Học trò của Đặng Thùy Trâm phải không, trạm xá nằm ở chỗ nào?”.